Miền cao núi đá qua ống kính điện ảnh tài liệu

Những vùng núi cao, nơi có cuộc sống nhiều cung bậc, đa sắc mầu của bà con dân tộc thiểu số, từ lâu đã là một mảng hiện thực hấp dẫn và trở thành đối tượng phản ánh của người làm phim tài liệu.

Miền cao núi đá qua ống kính điện ảnh tài liệu - ảnh 1

Bình thường, sống ở phố, đầy ắp toan lo, tấp nập những công việc, vội vã những di chuyển chen chúc..., bỗng một ngày thấy mệt mỏi, thấy nhịp sống nơi đô thị sao mà gấp gáp, chật chội, ngột ngạt đến vậy. Dân phố thị thường ao ước được thoát ra khỏi bầu không khí đặc sánh ấy để lên núi, ra biển hay về một miền quê thanh bình, yên ả nào đó với tiếng gà gáy sớm và khói lam chiều...

 

Một chuyến du ngoạn nhiều khi chỉ bắt đầu bởi căn nguyên như thế. Nhưng có những con người, hoàn toàn chỉ vì công việc, vì tình yêu nghề nghiệp, vì niềm thôi thúc phát hiện và sáng tạo, mà sẵn sàng lên đường, sẵn sàng dấn bước tới tận cùng của gian nan, của nhọc nhằn, để thỏa chí đam mê... Có thể nói về những người làm phim tài liệu như vậy.

 

Ðến với những vùng núi cao, nơi có cuộc sống nhiều cung bậc, đa sắc mầu của bà con dân tộc thiểu số - một mảng hiện thực luôn hấp dẫn và trở thành đối tượng phản ánh của người làm phim tài liệu. Tìm kiếm, phát hiện, dự báo và hướng đến con người là những nét đặc trưng tiêu biểu trong phẩm chất người làm phim tài liệu. Bộ phim “Cao nguyên đá” (kịch bản Ðào Thanh Tùng, đạo diễn NSND Lê Mạnh Thích) đã trở thành một tác phẩm điện ảnh tài liệu ấn tượng về cuộc sống của người Mông ở cao nguyên Ðồng Văn (Hà Giang), một cộng đồng người có sức sống bền bỉ, dẻo dai trước nghiệt ngã của thiên nhiên.

 

Không chỉ phản ánh đời sống của bà con trên cao nguyên này, nhiều bộ phim còn khắc họa chân dung những người dân nghị lực, sáng tạo để nâng cao chất lượng cuộc sống. Ðó là chân dung "vua lưỡi cày" Chứ Chủng Lầu trong bộ phim “Lưỡi cày” của Chứ Chủng Lầu (Ðoàn Anh Dũng); hình ảnh Giàng Lìa Sính - người bưu tá tận tụy của bản Há Hơ - Hà Giang trong phim Thư về bản (NSƯT Nguyễn Hướng); cô giáo Mùi trong Thang đá ngược ngàn (NSƯT Lê Hồng Chương)... là những con người tiêu biểu, được các nhà làm phim tài liệu phản ánh với tình cảm trân trọng và cảm phục. Chứ Chủng Lầu, lão nông xã Sủng Trà, huyện Mèo Vạc và những chiếc lưỡi cày đặc hiệu do ông sáng chế đã đem đến cho người dân một ngày mới vợi bớt nhọc nhằn. Bao tâm tư khát vọng, sau nhiều ngày mày mò, thử nghiệm, Chứ Chủng Lầu đã đúc được lưỡi cày trên đá, thay thế chiếc lưỡi cày 51, 58 ở dưới xuôi mang lên thường xuyên bị gãy trên nương đá. Lưỡi cày của ông đã bắt đá phải bật lên để thành nương, cái đói, cái nghèo của bà con dần được đẩy lùi.

 

Niềm lạc quan, hồn nhiên trong trẻo của bà con các dân tộc đã được người làm phim tài liệu miêu tả đầy sinh động. Bà con khi được xem phim đã thật sự vui thích trước hình ảnh của chính mình. Sau một buổi được xem phim do đội chiếu phim lưu động phục vụ, ông Và Chí Lìu ở Ðồng Văn, huyện Mèo Vạc đã ngỏ lời: "Ðược xem phim tao vui lắm. Tao thấy cán bộ làm phim rất hay, hay nhất là cán bộ khen người Mông tao giỏi lao động. Nhưng chúng tao có ít người giỏi như ông Chứ Chủng Lầu lắm". Còn ông Thào Sủng ngồi cạnh thì phát biểu ý kiến: "Nhà nước cho nhiều người trong xã tôi cái nhà, con bò, bể nước, lại còn làm phim về xã tôi, bà con thích nhiều, tiến bộ nhiều. Nhưng bà con muốn được xem nhiều phim hơn đấy, nhờ cán bộ nói giúp cho bà con".

 

Có thể thấy rõ, phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng, đúng đời sống lao động và tình cảm của bà con dân tộc thì hiệu quả thông tin, tuyên truyền ở tác phẩm điện ảnh thật sự rộng lớn và có ý nghĩa. Tiếp tục khai thác đề tài từ cuộc sống của đồng bào miền núi, bộ phim “Thư về bản” của Nguyễn Hướng thể hiện một góc nhìn khác về đời sống tinh thần của bà con dân tộc thiểu số. Khắc họa chân dung mộc mạc, giản dị của anh bưu tá Giàng Lìa Sính, dõi theo từng nét sinh hoạt thường nhật của cá nhân nhân vật trung tâm giữa cộng đồng những con người ở rất xa ánh sáng văn minh thị thành. Giàng Lìa Sính ngày ngày tận tụy đi bộ cả chục cây số để lấy thư báo, đem tin tức, niềm vui về cho cả bản. Việc làm của anh đã mang lại sắc thái mới cho cuộc sống còn thiếu thốn tinh thần của bà con nơi vùng núi cao ở Hà Giang này. Với nhiều chi tiết phong phú về cuộc sống nơi vùng cao núi đá, bộ phim còn là một tác phẩm điện ảnh tài liệu có giá trị nghệ thuật, có ý nghĩa xã hội rộng lớn.

 

Không chỉ đặt ra vấn đề còn nan giải trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn của người nông dân miền núi, việc phát hiện nhân tố mới tích cực, khắc họa bề dày của đời sống văn hóa tinh thần, sinh hoạt cộng đồng làng xã của đồng bào các dân tộc vùng cao, các nhà làm phim tài liệu còn tìm đến những góc tâm hồn sâu thẳm trong mỗi số phận để sẻ chia, động viên bằng tình cảm trân trọng, cảm phục. Ðiều ấy được thể hiện sâu sắc ở bộ phim “Thang đá ngược ngàn” (kịch bản Ðỗ Doãn Hoàng-Lê Thái Hòa, đạo diễn Lê Hồng Chương. Cô giáo Mùi, một cô gái trẻ, vượt qua mặc cảm thân phận sinh ra trong một gia đình bố mẹ đều mắc bệnh phong, tình nguyện lên tận "cổng trời" dạy chữ cho trẻ em nghèo ở bản Phá Ðáy, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Lời tâm sự chân thành trong những lá thư của Mùi viết cho người yêu như lời động viên cô dành cho chính mình. Cô không còn đơn độc khi ở giữa niềm tin yêu dân bản. Sự ấm áp dường như lan tỏa trong trái tim và tâm hồn cô gái nhỏ nhắn đầy nghị lực. Người làm phim đã đưa chân dung trong trẻo và lẽ sống đầy ắp giá trị nhân văn ấy lên một tầm nhìn cao hơn.

 

Những chuyến đi thực tế khắp các vùng sâu, vùng xa, xuống thác, lên rừng đã đem lại thật nhiều cảm xúc, phát hiện mới cho người nghệ sĩ điện ảnh tài liệu. Người xem tìm thấy ở “Những người không biết tuổi mình”, “Người Ơ Ðu ở Tương Dương”, “Người La Hủ ở Mường Tè”, “Người Rục ở Quảng Bình”... một ý nghĩa nhân văn trong việc bảo vệ bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số. Làm thế nào để bà con dân tộc thiểu số duy trì được tiếng nói, chữ viết; cộng đồng người đang bị mai một duy trì được nòi giống, duy trì được đời sống, tiếp thu được nguồn sáng tích cực của xã hội,... đó là những câu hỏi được đặt ra với người làm phim tài liệu.

 

Không dừng lại ở việc đặt vấn đề trong mỗi bộ phim, những câu hỏi được người làm nghề mang theo tới từng bản làng, trên hang núi cao. Ở đây, người nghệ sĩ cùng ăn, ở và cùng sinh hoạt với bà con, hiểu thấu phong tục đặc trưng của mỗi dân tộc, để rồi cùng với chính quyền, bộ đội biên phòng tìm cách vận động bà con rời bỏ cuộc sống dị biệt, hỗ trợ bà con đến định cư ở vùng đất mới, văn minh hơn.

 

 Công cuộc đổi mới đã tạo nên nhiều thay đổi căn bản trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có điện ảnh tài liệu. Người làm phim tài liệu đã mạnh dạn đề cập những vấn đề còn khúc mắc trong đời sống nhân dân. Những bộ phim như “Sống ở vùng lòng hồ”, “Lời của dòng sông” là tiếng nói phản ánh nguyện vọng chính đáng của bà con các dân tộc trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước. Ðồng ý rời bản để lên khu định cư mới, nhưng bà con cũng còn đó những băn khoăn khi chưa thể thích nghi ngay với đời sống mới, việc làm mới. Mỗi bộ phim khi đó đã thật sự trở thành phương tiện tuyên truyền hữu hiệu, tác động vào mỗi con người, làm chuyển đổi nhận thức từ chưa rõ ràng, thậm chí còn tiêu cực, của một bộ phận bà con, trở nên đúng đắn, tiến bộ. Ðưa chân dung cuộc sống của đồng bào các dân tộc đến với nhiều đối tượng người xem, làm cho mọi người hiểu rõ hơn, cảm thông hơn và cũng trăn trở hơn về trách nhiệm công dân của mình trước cuộc sống còn nhiều khó khăn của bà con dân tộc thiểu số. Lên thác xuống ghềnh, “Hồ treo trên núi” (đạo diễn, NSƯT Vương Khánh Luông) chính là hai bộ phim được nghệ sĩ điện ảnh tài liệu phản ánh rõ nhất nhiều việc làm tích cực của các tổ chức xã hội nhằm cải thiện đời sống cho bà con vùng sâu, vùng xa.

 

Mới đây, bộ phim “Bài ca trên đỉnh Tà Lùng” do các nghệ sĩ Hãng phim tài liệu khoa học trung ương thực hiện một lần nữa khắc họa chân dung những con người trên cao nguyên núi đá với một hiện chân lãng mạn khôn cùng. Họ, ba người lính, ba người thương binh, ba người đàn ông Mông, giản dị, thô mộc mà đẹp, vẻ đẹp chất phác lan tỏa từ lòng thân ái, từ việc làm và từ nghị lực sống "tàn nhưng không phế". Có hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng ba nhân vật Lầu Thèn Sò, Vàng Mí Chớ và Thào Mí Giàng chung niềm vui gắn bó với cộng đồng bằng tấm lòng cao cả, bởi cái lý giản đơn nhưng không phải ai cũng làm được của người Mông "không kéo đỉnh núi lại được thì kéo bàn tay con người lại với nhau". Bằng tình yêu cuộc sống và ý chí mãnh liệt, ba người đàn ông ấy đã sống, lao động và đem thành quả lao động của mình từ can nước, bắp ngô đến kinh nghiệm sản xuất hỗ trợ bà con xây dựng cuộc sống... 20 phút chiếu trên màn ảnh rộng, “Bài ca trên đỉnh Tà Lùng” thật sự là một bài ca đẹp, chân thực mà lãng mạn về những người thương binh trên đỉnh núi cao ở Ðồng Văn.

 

Có thể nói, những bộ phim về đề tài miền núi đã trở nên vô cùng gần gũi, thân thiết với bà con các dân tộc bởi lẽ người nghệ sĩ đã chú ý đến việc lựa chọn đề tài vừa mang tính phát hiện độc đáo vừa có ý nghĩa thiết thực trong việc tuyên truyền, giáo dục và gìn giữ những giá trị đích thực tốt đẹp của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

 

Theo nhân dân

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác