NSND Đặng Nhật Minh – Kể chuyện dân tộc mình bằng điện ảnh

Lao động nghệ thuật là một lao động sang trọng. Ở một nền điện ảnh nghèo kinh phí, dễ bằng lòng với hoá trang sơ sài hoặc chỉ đơn giản vì không đủ thiết bị như cơn bão trong phim Đời cát cũng chỉ được làm bằng vài cái quạt cũ; thì Đặng Nhật Minh lấy việc đi đến cùng với nghề mà làm sang.

Đạo diễn Đặng Nhật Minh tham gia Hội thảo với chủ đề Đạo diễn Đặng Nhật Minh tham gia Hội thảo với chủ đề "Điện ảnh và lịch sử" tại LHP New Delhi (Ấn Độ) tháng 7/2007

Nhân Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XV đang đến gần, người ta nói  về “phim nội” nhiều hơn. Với thiện ý góp tiếng nói để phim ta ngày một hay hơn, nhiều ý kiến rằng kinh phí có hạn, khán giả nhà đang quay lưng lại với phim nội hoặc có tác giả còn đi sâu hơn vào những vấn đề muôn thủa như tài năng của diễn viên, của đạo diễn.

Chúng tôi mang những vấn đề nổi cộm để hỏi NSND Đặng Nhật Minh, ông cười nói “bây giờ hỏi về các cụ hưu ở phường Hàn Thuyên thì tôi thạo, còn về điện ảnh, có khi chính tôi còn phải hỏi các phóng viên”. Dù sao thì trong sự nghiệp của mình, cũng với dàn diễn viên ấy, khán giả ấy, nhưng đạo diễn Đặng Nhật Minh đã làm nên một sự nghiệp đồ sộ. Tháng 8-2005, tại Liên hoan phim Quốc tế Hàn Quốc, ông được trao Giải thưởng trọn đời.

Một gia đình đạo đức mẫu mực

Nếu sau khi học xong tiếng Nga về nước năm 1957, ông không ngẫu nhiên được phân về ngành điện ảnh, làm phiên dịch lời thoại cho phim rồi cho các giáo sư Liên Xô giảng dạy ở Trường Sân khấu Điện ảnh, thì rất có thể ông đã thành một người khác. Sau 10 năm làm phiên dịch ở Trường, cha ông- GS Đặng Văn Ngữ, vẫn coi cậu con trai lớn của mình là vô nghệ nghiệp. Thậm chí, người bác của ông, cụ Đặng Văn Kế, tháng Tư 1975 gặp lại cháu ruột mình, đã rất thất vọng, lắc đầu ngán ngẩm. Sau cùng, gia đình ông chỉ còn biết tự an ủi rằng, nhờ cái nghề “đạo diễn lông bông” mà cháu mình đã có thể về thăm nhà sớm như vậy!

Nhân tài có thể sinh ra ngẫu nhiên. Nhưng việc GS Đặng Văn Ngữ, vào năm 1947, từ chối lời mời định cư tại Nhật hoặc sang Mỹ giảng dạy trong khi đất nước có chiến tranh vẫn về cố hương thì chỉ có thể khẳng định là do ông được sinh ra trong một gia phong như thế. Cũng như việc ông đi tàu thuỷ về Băngkok, với một lọ đựng giống nấm Peniciline trong valy, bắt liên lạc với Đại diện Việt Nam dân chủ cộng hoà rồi từ Thailand băng rừng lội bộ về  chiến khu Việt Bắc theo lời kêu gọi kháng chiến của cụ Hồ thì đó chính là lòng yêu nước trên cơ sở một gia phong vững vàng. Năm 1967, sau khi ngành Y tế xoá trắng ký sinh trùng sốt rét trên toàn miền Bắc mà GS Đặng Văn Ngữ là hạt nhân của sự nghiệp vĩ đại ấy, ông đã tự nguyện vào chiến trường Quảng Trị, nghiên cứu tại chỗ chủng sốt rét mới để tìm vắc xin phù hợp cứu chữa cho hàng vạn con người- những người lính và đồng bào các dân tộc sống trong đói khát rừng núi hoang vu. Giáo sư bị bom và chết như một người lính vào ngày 1/4/1967.

Thân mẫu Đặng Nhật Minh, bà Tôn Nữ Thị Cung mất trước chồng 14 năm. Bà là con quan Thượng thư Bộ Hình triều Khải Định, có truyền thống cách mạng chống Pháp. Năm 1950, bà đã bồng bế con, theo đường dây bí mật lặn lội ra khu 4 rồi từ khu 4 ra Việt Bắc với chồng. Từ một công nương trở thành y tá phục vụ tại phòng chế xuất Peniciline của chồng, cuộc cách mạng của bà thấm đẫm tình yêu chồng con, yêu đất nước. Đặng Nhật Minh kể: “Không lâu sau đợt chỉnh huấn lần thứ nhất, mẹ tôi đột ngột qua đời. Khi bà hôn mê, cha tôi đang bận chỉnh huấn đợt hai. Bà đã hôn mê ba ngày đêm, chờ cha tôi về mới trút hơi thở cuối cùng. Cha tôi nằm bên xác mẹ tôi một đêm, sáng hôm sau chôn mẹ tôi ngay tại nền nhà trước khi rời Việt Bắc về tiếp quản thủ đô.” Giờ đây, chúng ta ai cũng xót xa về cái thời ấu trĩ ấy, nhưng sẽ còn xót xa hơn nếu lịch sử mà thư ký của nó là văn học nghệ thuật không thăng hoa nỗi đau thành hình tượng nghệ thuật đủ bền vững và đủ mạnh mẽ để trắc ẩn lòng hậu thế. Thị xã trong tầm tayMùa ổi là hình tượng nghệ thuật đã được thăng hoa như những nén hương tri ân ông thắp cho tiền nhân.

Không được đào tạo chuyên nghiệp

Có ý kiến cho rằng Đặng Nhật Minh không qua trường lớp nào cả. Đúng vậy. Ông mới chỉ được đào tạo nghề 6 tháng ở Bulgarie và trong 6 tháng ấy lại chỉ học được có hai điều: một đạo diễn Bulgarie đang làm việc thì có ồn ào, ông ta hét lên: “Có im đi không? Không biết là Chúa đang sáng thế à?” Vâng, trên trường quay, đạo diễn như là Chúa. Điều thứ hai là không được nhân nhượng với chủ nhiệm phim, những người luôn muốn bớt đạo cụ, thay cảnh để bớt tiền dẫu rằng chỉ với động cơ vì đoàn làm phim.

NSND Đặng Nhật Minh – Kể chuyện dân tộc mình bằng điện ảnh - ảnh 2
Đạo diễn Đặng Nhật Minh (phải) tại chiến khu Việt Bắc

 

Nhưng, một người làm ra phim nào cũng hay, cũng bán được cho nước ngoài thì không thể nói là không chuyên nghiệp. Trên con đường tự học, may mắn là vốn tiếng Pháp và tiếng Nga đủ để Đặng Nhật Minh cập nhật tri thức nghề nghiệp; và may mắn hơn là ông có người chú rể GS Nguyễn Hồng Phong, một nhà văn hoá uyên bác, chồng của em gái mẹ ông là nhà văn Ngọc Trai. Trong những bữa cơm gia đình, ông đã được học về Mỹ học, Việt Nam học và lịch sử với chú Phong. Với kiểu học một thầy một trò ấy, cái gì cần thì vào rất sâu trong tâm hồn. Cảnh hồn ma hiện về gặp người sống trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười giàu biểu cảm đến mức nguyên nó đã có thể viết một cuốn sách mang lại danh xưng nhà Việt Nam học cho bất cứ ai. Hollywood hay các nước tiên tiến sẽ giải quyết trường đoạn này bằng kỹ xảo và sẽ cho một hiệu quả đầy mùi công nghệ; còn Đặng Nhật Minh mượn cái ước lệ của văn hoá dân gian Việt mà đi đến hiệu quả nghệ thuật.

Tôi nghĩ, có nhiều cách học làm đạo diễn, nhưng tựu chung gồm hai nhóm: Nhóm thứ nhất học kinh viện, ở ải khóc, nhận tin con tử trận là ngất, sau này thì biết tin con nghiện cũng ngất nốt. Nhóm đó làm ra những phim giống nhau như quán cơm trưa bình dân, và làm nghèo hoá nghệ thuật. Nhóm thứ hai như Đặng Nhật Minh học từ trải nghiệm cuộc sống, từ các giáo sư đầu ngành của các khoa học khác để quay về làm giàu ngôn ngữ điện ảnh. Năm 1950, sau 7 năm xa chồng và sau 3 tháng trèo đèo lội suối cõng con đi tìm chồng, bà Tôn Nữ Thị Cung nhìn thấy chồng từ trên đồi chạy xuống thì bà lập tức quay đầu bỏ chạy bước thấp bước cao. Niềm hạnh phúc tìm kiếm bấy lâu hiện ra bất ngờ, nỗi hờn tủi chồng vì việc nước mà cứ bỏ đi biền biệt hoặc có khi chả vì cái gì cả, cảm xúc quá lớn khiến con người ta không biết phải làm gì. Mất bao nhiêu trang miêu tả, bao nhiêu khuôn hình để “nói ra” cho hết một ứng xử lạ mà hấp dẫn đến thế?

Làm nghệ thuật là phải đi đến cùng

Lao động nghệ thuật là một lao động sang trọng. ở một nền điện ảnh nghèo kinh phí, dễ bằng lòng với hoá trang sơ sài hoặc chỉ đơn giản vì không đủ thiết bị như cơn bão trong phim Đời cát cũng chỉ được làm bằng vài cái quạt cũ; thì Đặng Nhật Minh lấy việc đi đến cùng với nghề mà làm sang. Trong phim tài liệu Nguyễn Trãi, cần có cảnh một con ngựa băng vượt đầm lầy và hý lên những tiếng sẽ được ngân rền qua vách núi Chi Lăng. Vào những năm 80 gian khó thì tìm đâu ra ngựa, có kiếm ra thì cũng mất tiền- nó là miếng sống của đoàn làm phim; có ý kiến hay là dùng bò mà thay. Nhưng Đặng Nhật Minh kiên quyết tìm ngựa. Và sức trỗi vượt cùng tiếng hý bi thiết của con ngựa trong phim đã chứa một sức biểu cảm mà không một lời bình nào có thể nói hết về thân phận con người trong chiến tranh.

NSND Đặng Nhật Minh – Kể chuyện dân tộc mình bằng điện ảnh - ảnh 3
Poster phim "Mùa ổi" chiếu tại Pháp

Mùa ổi chỉ được chi 750 triệu đồng, bằng nửa so với các phim khác. Trái lại, ông đã nhận được sự giúp đỡ từ bên ngoài với các máy móc thiết bị hiện đại đôi khi là miễn phí hoặc nhiệt tình làm hết công suất máy ngay cả trong ngày Lễ Quốc khánh của bạn. Rốt cuộc, Mùa ổi đã được quay và làm hậu kỳ trong hoàn cảnh tối tân của làng điện ảnh thế giới mà ngay cả khi có ngân sách mười lần hơn thế chưa chắc đã xong. Mùa ổi đã được trao Giải thưởng Don Quichote của Hiệp hội Điện ảnh thế giới và Giải Nhì của Ban giám khảo Trẻ, tại Liên hoan Phim Locarno Thuỵ Sỹ 1996; và điều đáng nói là Mùa ổi đã nhẹ bước qua lỗi lầm quá khứ, đã nhân ái phủi bụi thời gian cùng những biến thiên thời cuộc để cho bè bạn quốc tế được dịp trầm trồ trước một nét đẹp của Việt Nam.

Xuất thân quý tộc kinh đô nhưng cha mẹ rồi chính bản thân Đặng Nhật Minh đã ba cùng với nhân dân cần lao. Phải sống ở nông thôn, nơi lưu giữ và bảo vệ văn hoá Việt; phải đói khát sắn khoai tro bụi với nông dân, đi đến tận cùng chăn rận ổ rơm để cắt nghĩa mọi cái hay nét xấu trong tính cách họ thì mới lý giải nổi các biến động lịch sử suốt mấy chục năm qua và tái tạo chúng bằng một đôi mắt nhân ái bao dung, cảm khí kiêu hãnh anh hùng và mới mong chạm tới chân lý nghệ thuật. Ông đã đi tới chân lý nghệ thuật bằng con đường như thế. Vào giữa thập kỷ 80 gian khó, ông có thể ăn hết một cái bắp cải.Tôi cứ ngầm so sánh sự thanh khiết lãng mạn của Thị xã trong tầm tay với cái bắp cải trong bụng ông bố của nó mà không khỏi bùi ngùi, thương cảm.

Học cách so sánh của tờ báo Pháp Canard Enchainé bình luận về Mùa ổi: Bộ phim có hương vị như một trái ổi nhỏ của Proust, (nhà văn Pháp, tác giả tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất rất nổi tiếng) có thể nói về Thương nhớ đồng quê- đã trở thành một trong những kiệt tác của điện ảnh Việt- Trong Thương nhớ đồng quê có lời Mẹ hát ru cậu Gióng, vừa ru vừa vuốt ve đứa con lớn khoẻ từng ngày để đánh trả loại giặc mới có tên là nghèo nàn tụt hậu.

(Theo TQ)

Qua tiếp xúc và xem phim của Đặng Nhật Minh, tôi thấy anh là một người có tâm hồn, có ý chí vươn lên và rất nghiêm túc trong việc làm phim. Có thể nói Đặng Nhật Minh là con người của nghệ thuật điện ảnh, có tầm cỡ quốc tế.

                                                                                              Đạo diễn Mai Lộc

Báo Nihon Keizai Shimbun, tera 7 triệu bản/ngày của Nhật Bản năm 1999 đã trao cho NSND Đặng Nhật Minh Giải thưởng Nikkei Asia Prize với lời đề tặng “dành cho người nghệ sỹ bằng nghệ thuật điện ảnh đã nói lên được tâm tư tình cảm của dân tộc mình và cũng là của các dân tộc châu á ra với thế giới.”

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác