NSND Trương Qua – Con số 8 và chuyến phiêu lưu 50 năm đầy lửa của người nghệ sĩ Hoạt hình Việt Nam

Đối với tôi, ông như một người cha, người ông ngoại của đứa con trai tuy đã 23 tuổi nhưng rất mê phim hoạt hình, đã bao lần đón nhận từ tấm lòng của ông những bộ phim, cuốn sách, bức tranh…mà ông vẫn thường xuyên gửi tặng.

Hầu như các hoạt động tri ân cho các đồng nghiệp lão thành, các buổi giao lưu, kỷ niệm ngành phim hoạt hình là hai chú cháu lại cùng song hành đi hay ngồi đàm đạo sôi nổi. Hình ảnh của ông khi đó như một bức tranh sống động với đầy đủ mảng màu gợi mở bao chan chứa yêu thương, nhiệt huyết đến tinh tế lạ thường.
Đã ở vào cái tuổi 83, với dáng người mảnh khảnh vì phải chống chọi trước bao bệnh tật, thế mà khi đề cập đến phim hoạt hình là trong ông lại trào dâng bao phấn khích và tình yêu nghề.

Thật bất ngờ khi ông chia sẻ… Cho tới giờ, mỗi lần tỉnh dậy qua một đêm, điều đầu tiên là ông luôn cố nhớ lại đêm qua mình nằm mơ thấy gì? Và thật lạ, ngoài những gì không thể nhớ rõ thì hầu hết các câu chuyện lắt nhắt, vụn vặt ấy đều liên quan ít nhiều đến yếu tố hoạt hình của những năm xửa, năm xưa… Thế là ông đã cố gắng xâu chuỗi lại thành những kỷ niệm từ con số 8 khá thú vị: 
Năm 1958: đang học ở Xưởng phim Hoạt hình Mátxcơva và thực tập làm bộ phim Con Cóc là cậu ông trời cùng anh Lê Minh Hiền.
Năm 1968: Đoàn đại biểu hoạt hình Việt Nam (Hồ Quảng, Nghiêm Dung, Trương Qua) tham dự LHP Hoạt hình quốc tế ở MaMaia (Bucarét - Rumani) với bộ phim Bài ca trên vách núi, được nhận Bằng khen của Hội Điện ảnh nước CHXHCN Rumani.
Năm 1978: Bắt tay xây dựng bộ phim Em bé và chiếc gương, vừa làm đạo diễn kiêm hoạ sĩ tạo hình, căng thẳng quá phải vào nằm cấp cứu tại bệnh viện Thống Nhất.  
Năm 1988:  Ngày 22/3 đoàn nghệ sĩ Điện ảnh TP.HCM tham dự LHPVN tại Đà Nẵng (do NSND Huy Thành làm trưởng đoàn), trên đường trở về TP.HCM bằng xe Chiến thắng của Hẵng phim Giải Phóng, khi xe xuống dốc đèo Cù Mông, thì bị đứt thắng, xe lật… nhưng thật may không ai bị thương nặng. 
Năm 1998: Bay ra Hà Nội nhận giải thưởng loại A quyển sách tranh truyện Dế mèn phiêu lưu ký của Nhà xuất bản Kim Đồng; ra Nha Trang thực hiện phim tài liệu lịch sử Mặt trận Nha Trang một thuở hào hùng
Năm 2008: Những tưởng sẽ không có dịp ra Hà Nội được nữa vì sức khoẻ của hai vợ chồng quá yếu, nhưng thật hạnh phúc khi nhận được thư của Cục Điện ảnh mời  các NSND nhân kỷ niệm ngày Bác Hồ ký sắc lệnh thành lập quốc doanh chiếu bóng và nhiếp ảnh ( 5/3/1953 tại Việt Bắc).  
Năm nay, nhân kỷ niệm 50 năm ngành Hoạt hình Việt Nam, món quà của ông không phải là bộ phim, cuốc sách, bức tranh mà là bộ sưu tập mang tên DẤU XƯA (hơn 30 tập từ năm 1946 đến năm 2009 với nhiều chuyên đề, qua hơn 1.500 trang) về chân dung, sự nghiệp các đồng nghiệp, tập tư liệu về hình ảnh chụp từ nhiều chục năm trước, hay trích ra từ các bộ phim, các cảnh phim, áp phích, giải thưởng cùng những bài viết nghiên cứu, phê bình, những lá thư, vật kỷ niệm… để nhớ và tôn vinh. Tất cả hơn 30 tập ấy được xếp thành hàng thẳng tắp trên ba giá sách bên bàn làm việc của ông.
Từ chàng trai Ê-đê uy nghi đến Trường ca Đam San huyền thoại 
NSND Trương Qua vẫn thầm nhủ mình là người có may mắn khi được làm bộ phim hoạt hình mà thời gian thực hiện chiếm kỷ lục dài nhất trong tất cả các phim hoạt hình Việt Nam. Đó là bộ phim Đam San được thực hiện qua 4 năm ròng rã. Thời gian để suy nghĩ về chàng trai Ê-đê uy nghi như một hiệp sĩ, khoác trên mình tấm chăn màu đỏ thắm tung bay trước gió đến với ông khi còn là anh hoạ sĩ bộ đội đi hành quân vào một buôn làng ở Tây Nguyên, cách thời điểm ra đời bộ phim khoảng 30 năm. Khi Đam San được đưa vào kế hoạch làm phim ông rất mừng, nhưng cũng đầy lo âu. Ông tâm sự: Việc chuyển thể từ một hình tượng văn học của bản trường ca đồ sộ sang một hệ thống ngôn ngữ màn ảnh hoạt hình, với tôi đúng là một việc mạo hiểm.
Để tránh thất bại, ông đề nghị với Giám đốc Xí nghiệp phim Tổng hợp Võ Thành Lê cho ông khoảng thời gian hai năm (1982- 1983) để tập trung vào kịch bản văn học. Ông thực hiện nhiều chuyến đi nghiên cứu và thâm nhập thực tế ở Buôn Ma Thuột và các vùng dân tộc Ê-dê ở tỉnh Đak lak. Cố vấn cho đoàn là các nhà nghiên cứu dân tộc học Trường Sơn – Tây Nguyên, ông Nguyễn Hữu Thấu cùng một tập thể các bô lão và các chuyên gia mà đứng đầu là ông Yngông Niekkdam, nguyên hiệu trưởng trường Văn hóa Dân tộc; cụ Ywang, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội. Với sự tham gia của cả ban giám đốc và hầu hết các cán bộ chuyên viên nghiên cứu về dân tộc học của các ngành văn học, âm nhạc, hội hoạ và ca múa của Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Đak lak. Cảm kích trước một hậu thuẫn mạnh mẽ như vậy, NSND Trương Qua luôn tâm niệm trong cách nhìn, cách nghĩ đều phải xuất phát từ mạch nguồn giá trị văn học các dân tộc Tây Nguyên nói chung, của dân tộc Ê-đê nói riêng.
Luôn hướng về cội nguồn để tạo nên hình tượng nhân vật Đam San với những mối quan hệ xã hội bộ tộc trong bối cảnh thiên nhiên huyền thoại đầy chất  thơ, đậm bản sắc dân tộc mà vẫn tránh được khuynh hướng nệ cổ hoặc hiện đại hoá sống sượng. Nhà biên tập Lê Nguyên đã nhiều phen mất ăn, mất ngủ để mạnh dạn cắt bỏ những đường dây, nhân vật, chi tiết không làm nổi rõ chủ đề, hay không phù hợp với ngôn ngữ phim hoạt hình. Ông cố gắng để các ý tưởng, nội dung được biểu hiện kín đáo, được hoá thân vào các hình tượng, tình huống và chi tiết. Ông phải viết đi viết lại đến lần thứ 6 mới được biên tập hài lòng, giám đốc xí  nghiệp phim chấp nhận. Về lời thoại và lối dẫn chuyện, ông tìm cách diễn cảm cô đọng, trầm lắng qua lời dẫn chuyện của một già làng; có lúc kể, có lúc như nhắc nhở, dự báo, làm cho mạch phim liền lạc rõ ý, giúp người xem tiếp cận, hoà nhập vào không khí trường ca của tác phẩm. Nhà văn Tô Hoài, người cố vấn đặc biệt về nghệ thuật, đã nắm bắt được cái hồn, cái thần của trường ca Đam San nên khi bộ phim hoàn thành đã được khán giả đón nhận với nhiều thiện cảm. Ông càng biết ơn nhà văn Tô Hoài đã góp một phần hết sức quan trọng cho tác phẩm điện ảnh hoạt hình Đam San càng thêm bay bổng.
Trong 16 tác phẩm hoạt hình mà ông thực hiện, Đam san là tác phẩm mà ông chấp nhận nhiều gian khổ nhất, đồng thời cũng là tác phẩm mà ông được thả sức tung hoành trong khám phá và sáng tạo.
Và những quá khứ vinh quang 
Ngược về quá khứ, nghệ sĩ Trương Qua đã rất hạnh phúc khi nhớ lại những lời khen của các thầy cô về cậu học trò “có hoa tay” trong suốt thời gian từ thời là học sinh tiểu học đến trung học. Năng khiếu này tiếp tục được phát huy trong 10 năm ở quân đội. Và người hoạ sĩ bộ đội duy nhất ở Phòng Chính trị Liên khu V được chọn đi học lớp hội hoạ miền Nam Trung bộ do thầy Nguyễn Đỗ Cung phụ trách. Sau khi tập kết ra miền Bắc, ông được học tiếp khoá mang tên hoạ sĩ Tô ngọc Vân tại trường Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội. Sau 2 năm học, tình cờ trong buổi thực tập trang trí, thầy Phó hiệu trưởng Trần Đình Thọ đến xem và nhận xét "màu sắc của Trương Qua rất tươi và rực rỡ, nếu vẽ phim hoạt hình là phù hợp đấy…” Thế là cái duyên đến với điện ảnh của hoạ sĩ phim hoạt hình Trương Qua bắt đầu từ đây. Ông được trường Mỹ thuật chọn sang học hoạ sĩ hoạt hình tại Xưởng Sojuzmoult Film (Liên Xô cũ) từ năm 1957-1959. Tại đây, những lời giảng của thầy luôn khắc ghi, vọng mãi bên ông “… muốn làm được phim  hoạt hình, người nghệ sĩ phải biết hoá thân vào nhân vật và tâm hồn phải luôn luôn bay bổng như cánh diều trong cõi bao la...”. Đây chính là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của ông để có thể tiếp cận với những gì huyền ảo, kỳ diệu của thế giới trẻ thơ đầy hấp dẫn.
Gần 50 năm sâu nặng một tấm lòng cùng trẻ thơ, ông chắt chiu, nâng niu cất giữ bao kỷ niệm và tri ân sâu sắc những gì mà đời đã dành cho ông trong bộ sưu tập các tư liệu  (1946- 2009) có tên Dấu xưa, chính là tài sản vô giá ông gửi lại cho mai sau.  
Ông tâm sự “Những vật kỷ niệm ấy, chúng là cả một pho truyện dài hàng ngàn trang, bởi lẽ chúng luôn luôn là sợi dây kết nối mình với quá khứ, trong đó có những tấm lòng cao đẹp, chí nghĩa chí tình, càng góp phần làm giàu thêm cuộc sống nội tâm của mình." Ông vẫn thường lấy quyển tập số 3 có ghi dòng chữ Sự nghiệp điện ảnh của đạo diễn NSƯT Lê minh Hiền để đọc và tri ân về ông - cánh chim đầu đàn của nghệ thuật hoạt hình Việt Nam. Là người có cách làm phim ngược đời mà không một cuốn sách giáo khoa điện ảnh nào trên thế giới dạy. Đó là làm phim hoạt hình nhất thiết phải có giấy bóng kính (mica), nhưng hoạt hình Việt Nam, với sự sáng tạo của ông Lê Minh Hiền đã làm phim hoạt hình trên giấy pơluya đánh máy có tráng dầu tràm và 11 bộ phim đã ra đời theo phương pháp này. Đến khi Nhà nước cho ngoại tệ để mua giấy bóng kính, thì từ đó hoạt hình Việt Nam làm theo phương pháp phim hoạt hình truyền thống thế giới.
Điểm đến của những bộ phim đậm dấu ấn
Cuộc chơi đầy thú vị cùng trẻ thơ của ông kéo dài gần 50 năm như được chuẩn bị trước. Ông say sưa hăm hở bước vào thế giới hoạt hình ngay sau một thời gian tham gia thực tập làm bộ phim Con Cóc là cậu ông trời cùng đạo diễn Lê Minh Hiền tại Xưởng phim Hoạt hình Mátxcơva. Khi về nước (1959) nỗi khát khao được làm phim thôi thúc các ông vượt qua những thiếu thốn về cơ sở vật chất để đến giữa năm 1960, bộ phim Đáng đời thằng cáo ra đời. Phim chỉ có 10 phút (do Lê Minh Hiền đạo diễn, còn ông và Hồ Quảng là hoạ sĩ tạo hình ). Đây là bộ phim có hơi thở ấm áp, thực sự có hồn xuất phát từ những cảm xúc thật tinh khôi và lòng chí thành của những người được tham gia bộ phim đầu tiên. Thật vinh dự khi bộ phim được nhận phần thưởng cao quý Bông sen Vàng đầu tiên cho ngành Hoạt hình Việt Nam.
Ước vọng cao nhất của người làm phim hoạt hình là đạt được hiệu quả cao trong nghệ thuật biểu hiện và làm phong phú những giác quan thẩm mỹ của người xem.
Năm 1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt thì đội ngũ các nghệ sĩ của Xưởng phim Hoạt hoạ Việt Nam (nay là Hãng phim Hoạt hình Việt Nam) càng nung nấu một quyết tâm phụng sự và cống hiến. Trong cái khó cần có nghị lực và lòng quyết tâm để vượt qua và ý tưởng cần thực hiện ngay một bộ phim hoạt hình màu được hình thành. Chính ông là người mong mỏi và nuôi quyết tâm thực hiện cao nhất. Xưởng kỹ thuật, trong đó kỹ sư Phan Nghiêm (một trong những người đầu tiên xây dựng nền kỹ thuật điện ảnh Việt Nam), có công lớn trong việc thể nghiệm làm phim màu mà trước hết là cho phim hoạt hình. 
Như vậy sự kiện đáng nhớ nhất vào năm 1967 là sự ra đời  phim màu của Hoạt hình Việt Nam. Bộ phim cắt giấy màu đầu tiên Bài ca trên vách núi do chính ông thực hiện, Nguyễn Hoài Giang viết kịch bản, hoạ sĩ tạo hình là Mai Long, Lê Huy Hoà và Ngô Đình Chương. Chuyện phim nói về truyền thống bất khuất, anh hùng đấu tranh chống giặc ngoại  xâm, bảo vệ buôn làng của người dân Tây Nguyên. Họ đã tạc trên vách núi bức phù điêu chiến thắng, biểu hiện ý chí quật cường, lòng yêu nước và khát vọng tự do. Những hình ảnh trong phim được xử lý bằng thủ pháp nghệ thuật giả định, tượng trưng, góp phần khái quát hiện thực một cách giản dị nhưng rất súc tích, hài hoà. Màu sắc trong phim được các hoạ sĩ vận dụng theo lối hoà sắc của các tranh sơn mài với những màu nguyên chất (vàng, đỏ, đen, nâu, trắng, xanh lam…) tạo nên cảm xúc thẩm mỹ tinh tế, mang dáng vẻ riêng, tươi sáng và đằm thắm. Đó là cái hồn, cái tinh thần dân tộc được đạo diễn biểu hiện hài hoà qua các yếu tố nghệ thuật cấu thành bộ phim. Bộ phim vinh dự chính thức đi dự LHP Quốc tế lần thứ II (1968) ở Mamaia và được nhận giải thưởng của Hội Điện ảnh Rumani. Tại LHPVN lần thứ  nhất (1970) Bài ca trên vách núi tiếp tục được trao giải Bông sen Bạc.
Nghệ sĩ Trương Qua rất có duyên với những bộ phim hoạt hình về các dân tộc ít người. Điều đó được chứng minh bằng ba giải Bông sen Bạc cho các bộ phim: Chiếc vòng bạc, Bài ca trên vách núi, Cầu vồng hoá đá và một giải thưởng tại LHP Quốc tế Bình Nhưỡng (CHDCND Triều Tiên) cho bộ phim Đam san. Khi hỏi vì sao ông có duyên may với các bộ phim hoạt hình kể trên, ông cho biết điều đó xuất phát từ một kỷ niệm khá xa xưa… Năm 1941 lúc ông 14 tuổi, tại một cuộc cắm trại của Hướng đạo sinh ở gần Hòn Chồng (Nha Trang), ngoài các đoàn thiếu sinh Ngô Quyền và Hoa Lư còn có đoàn thiếu sinh Eakrong (Buôn Ma Thuật) tham dự. Khi chấm thi giữa các trại thì cổng chào của đoàn Eakrong được xếp hạng nhất. Và ông đã bị mê hoặc bởi những hoa văn trang trí trên các cây gậy dựng cổng chào. Đó là những hình vẽ kỷ hà, vuông, tròn, chéo góc với các màu sắc sặc sỡ, nguyên chất: Đỏ, vàng, trắng đen… Tất cả toát lên vẻ hoang sơ lại vừa có chút yếu tố tân kỳ. Ông đã tỉ mẩn ghi chép những hình nét và màu sắc đó vào quyển sổ tay mà chưa có mục đích gì. Đến năm 1966, khi bắt tay thực hiện bộ phim Bài ca trên vách núi, ông mang ba lô và cặp vẽ lên trường Dân tộc Tây Nguyên ở Chi Lê (tỉnh Hoà Bình) để ghi chép các trang phục cho các nhân vật trong phim. So sánh các hoa văn trang trí của dân tộc Ê đê với các hoa văn của Bana, ông thấy có nhiều điểm khác nhau nên đã tìm mua các sách nói về phong tục tập quán các dân tộc Tây Nguyên để tham khảo. Nhờ vậy ông biết rằng, cùng là cồng chiêng nhưng người Êđê dùng chiếc dùi bằng cây gõ vào mặt lõm, còn người M‘nông lại dùng tay đánh vào mặt lồi của chiêng. Tiếng cồng chiêng  Êđê đặc sắc ở âm thanh lắng đọng, uy nghi, dồn dập nhưng không gào thét, mềm mại thiết tha nhưng không uỷ mị trong khi tiếng cồng chiêng Bana luôn rộn ràng, tưng bừng, vừa nhún nhảy vừa giục giã. Những điều được học trên đây đã giúp ông bớt sai sót khi làm bộ phim Đam san hoành tráng và công phu.      
Có thể nói Dế mèn phiêu lưu ký là sản phẩm tinh thần của một tập thể tâm huyết, dám làm bằng tất cả niềm đam mê và tinh thần trách nhiệm cao. Bộ phim ra đời tại Xưởng phim được thành lập sau 4 năm miền Nam giải phóng với bao khó khăn thiếu thốn đủ bề. Và đạo diễn Trương Qua là người cương quyết, táo bạo, đầy nghị lực để thực hiện bộ phim bằng một cái Tâm, cái Trí và một tình yêu nghề sâu đậm.        
Dế mèn phiêu lưu ký minh chứng cho sự sáng tạo, tìm tòi về một phong cách biểu hiện nghệ thuật đặc trưng cho thể loại hoạt hình. Là bộ phim có độ dài 40 phút, Dế mèn phiêu lưu ký đem lại chiếc Bông sen Vàng đầu tiên tại LHPVN lần thứ V năm 1980 cho Xưởng phim Hoạt hoạ - Búp bê thuộc Xí nghiệp phim Tổng hợp của TP.HCM và do chính NSND Trương Qua làm đạo diễn.        
Diễn xuất của nhân vật trong phim được cường điệu đúng mức, vừa có hồn người, vừa có đặc tính loài vật. Các động tác được chọn lọc và điển hình hoá góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật. Tính hài hước, ngộ nghĩnh qua cái nhìn trào phúng, vui tươi, ý nhị trong sáng tác đã nổi lên cách cảm nghĩ mang tính ẩn dụ ví von, so sánh liên tưởng, lấy vật nói người, lấy cảnh nói tâm. Trong phim tất cả cỏ cây, đồ vật đều trở thành nhân vật linh hồn của phim. Ngoài ra còn là sự năng động trong việc sử dụng tiết tấu, nhịp điệu chuyển động thật sôi nổi, linh hoạt ở những bối cảnh có chiều sâu không gian. Không chỉ bằng cách xử lý hành động, động tác diễn xuất của nhân vật mà ông còn có cách dàn dựng rất duyên dáng và tinh tế bằng thủ pháp xử lý về âm thanh, tiếng động và nhạc nền.      
Hiện thực luôn xoắn xuýt với tưởng tượng và sáng tạo. Còn màu sắc chỉ thật ý nghĩa khi nó liên tục được pha chồng với nhau để tạo gam màu mới đầy biểu cảm. Đó là sự thúc đẩy, niềm khát khao trong mỗi lần đạo diễn Ttrương Qua cầm cọ thực hiện các phim của mình. Vẽ theo cảm xúc chân thật từ những hiểu biết sâu sắc về bản sắc dân tộc, đó là hơi thở, là nhịp sống hàng ngày, là sự trung thực, là tình yêu đối với những vùng đất và con người nơi ông đã đi qua, đấy chính là nguồn cảm hứng mãnh liệt nhất của người nghệ sĩ.         
Trong hơn 30 năm (từ 1960- 1991) với 16 đầu phim do ông thực hiện, người xem dễ nhận thấy hầu như cách thể hiện của ông, luôn thay đổi, tránh sự trùng lặp và luôn sáng tạo. Người xem cũng nhanh chóng nhận ra yếu tố bản sắc dân tộc luôn được điểm xuyến trong mỗi bộ phim của ông. Đó là nét đẹp truyền thống, hướng về cội nguồn, lòng yêu nước, những kinh nghiệm sống, những bài học đạo lý… Giúp nâng cao sự thuyết phục và tính giáo dục lành mạnh cho các em.    
Hơn 10 năm qua trong sự khủng hoảng chung của ngành điện ảnh trước cơ chế thị trường mới, tuy đã về nghỉ hưu nhưng đạo diễn Trương Qua vẫn canh cánh một tấm lòng nặng sâu với nghề. Ông càng không cho phép mình nghỉ ngơi mà cố gắng làm những gì giúp ích cho ngành phim hoạt hình. Ông rất chịu khó trong việc sưu tập, lưu giữ gần 40 phim hoạt hình Việt Nam, trong đó có 7 phim đoạt giải Bông sen Vàng và 10 phim đoạt giải Bông sen Bạc. Trong hè năm 2002, ông đã gửi tặng Ban tổ chức chương trình Điện ảnh qua mắt trẻ thơ gần 70 bộ phim hoạt hình Việt Nam chọn lọc trong số các phim sản xuất từ năm 1977 đến 2001 (do Công ty Fahasa TP.HCM và Hãng phim Hoạt hình Hà Nội phối hợp ấn hành ra băng video). Cuối năm 2000, Ban thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam cùng Tạp chí Hội Điện ảnh TP.HCM đã hỗ trợ kinh phí để ông mua gần 50 khung hình dùng làm bộ sưu tập phim hoạt hình Hà Nội và TP.HCM. Hiện các tài sản quý giá này được lưu giữ tại Trung tâm nghiên cứu nghệ thuật và lưu trữ Điện ảnh tại TP.HCM.    
Ông còn cùng báo Điện ảnh và Công ty Điện ảnh của TP.HCM tham gia tích cực vào chương trình Điện ảnh qua mắt trẻ thơ là hăng hái tháp tùng đội chiếu bóng lưu động, mang gần 40 phim hoạt hình Việt Nam chọn lọc và tổ chức 12 buổi chiếu phim lưu động, thu hút gần 1.300 thiếu nhi tham dự. Được ngồi xem và tận mắt chứng kiến sự reo vui của các em khi tán thưởng những đoạn hấp dẫn qua các phim, ông vô cùng xúc động khi nhớ tới các đồng nghiệp thân quen và quãng thời gian vô cùng gian lao của ngành điện ảnh nói chung (1989-1999). Khi đó nhiều người nghĩ rằng ngành hoạt hình Việt Nam sẽ giải thể… Nhưng các nghệ sĩ thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba của Hãng phim Hoạt hình Việt Nam vẫn quyết tâm thực hiện những bộ phim với tất cả lòng yêu nghề và ý thức trách nhiệm của mình, dành nhiều tâm huyết cho các tác phẩm với lòng mong muốn tạo dựng một thời kỳ vàng son mới cho điện ảnh hoạt hình Việt Nam. Đáp án về bài toán “Làm thế nào để phim hoạt hình Việt Nam có khán giả?”… Đã phần nào có lời giải. Đó chính là phim hoạt hình phải tìm đến khán giả, chứ không đợi khán giả tìm đến với phim, trong đó không được phép bỏ qua đối tượng chủ yếu là các em thiếu nhi, nhất là các em ở vùng sâu, vùng xa ít có điều kiện tiếp cận với phim ảnh. Có như thế, thì sự đầu tư của Nhà nước và công sức của đội ngũ làm phim Hoạt hình Việt Nam mới thực sự đem lại hiệu quả xã hội như mong muốn. 
Càng cảm phục hơn khi biết ông vẫn còn giữ nguyên vẹn 62 cuốn lịch bỏ túi (1946-2008) ghi rõ từng chi tiết cụ thể ngày, giờ, công việc, sinh hoạt, kỷ niệm… gia đình và nghề nghiệp. Có lẽ đây là loại “máy vi tính bỏ túi” duy nhất ở nước ta. Đặc biệt nhất là tập thư tình gần 79 trang của người vợ yêu thương của ông (bà Tuyết Mai) viết từ tháng 4 năm 1957 tại Hà Hội gửi sang Mátxcơva trong thời gian ông đang theo học tại đây, được ông nâng niu, giữ gìn cẩn thận. Trong suốt hơn 50 năm chung sống, bà là người phụ nữ thuỷ chung, rất mực đảm đang, thương yêu chồng con, luôn sát cánh bên ông, chia sẻ tình yêu thương cùng những đầu việc suốt quãng đường nghệ thuật của họ, cho dù cuộc sống của gia đình có phần đạm bạc, khó khăn.
Đã qua rồi gần 50 năm nặng lòng với nghề. Vậy mà giờ đây khi ngồi bên ông, bất cứ ai cũng có thể nhận thấy lửa nhiệt huyết vẫn cứ cháy mãi, cháy mãi trong ông. Cũng như các chủ đề phim của mình, ông luôn giúp làm phong phú những giác quan thẩm mỹ cho người xem… Và những câu chuyện ông tâm sự trên sao ngọt ngào, ý vị mà sâu sắc, tinh tế đến thế… 
Bây giờ, cứ vào mỗi buổi sáng sớm, ông vừa uống cốc trà xanh, vừa lấy một vài tập trong bộ sưu tập Dấu xưa, lật từng trang nhẹ nhàng để đọc, rồi thả tâm hồn bay bổng theo những hoài niệm của một thời đáng nhớ xa xưa, còn in dấu biết bao kỷ niệm buồn, vui, vừa để hướng về sự tri ân quá khứ, hướng về sự hàm ơn, vừa như để thầm nghe tiếng nói trải nghiệm tâm linh của bản thân mình. Chính vì cái lẽ rất đời ấy, mà sẽ tiếp thêm nghị lực để ngày mai ông lại có thêm niềm tin và hy vọng sẵn sàng bước vào một ngày mới…


Theo TGĐA

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác