Phát hành và phổ biến phim: “Gỡ” khó cho doanh nghiệp trong nước

Phát hành và phổ biến phim: “Gỡ” khó cho doanh nghiệp trong nước - ảnh 1
Phát hành và phổ biến phim: “Gỡ” khó cho doanh nghiệp trong nước
(Ảnh: Internet)
(Cinet)- Thị trường điện ảnh Việt Nam đang hướng đến con số 100 triệu USD doanh thu vào năm 2020. Tuy nhiên, với sự “lép vế” của nhà phát hành và hệ thống cụm rạp nội địa như hiện nay, nếu không có chính sách hợp lý hay những ưu đãi cần thiết đối với các DN trong nước, khả năng Việt Nam  sẽ đánh mất thị trường vào tay các doanh nghiệp nước ngoài là hoàn toàn có thể. 
Thất thế từ rạp chiếu
Từng được xem là vua một cõi, trước kia Fafim Việt Nam là đơn vị độc quyền nhập và phát hành phim trong cả nước. Tuy nhiên mọi chuyện đã thay đổi từ khi nhà nước có chính sách xã hội hóa điện ảnh, các doanh nghiệp tư nhân được tham gia vào công tác phát hành phim đã xóa bỏ chế độ độc quyền và phát hành của phim nhà nước là Fafim Việt Nam. Thị trường điện ảnh Việt đã thực sự khởi sắc, cục diện thị trường phát hành phim Việt Nam cũng có nhiều thay đổi từ khi có sự vào cuộc của các công ty tư nhân, đặc biệt là các công ty có yếu tố đầu tư nước ngoài.
Hiện trên cả nước có khoảng 500 cụm rạp, các cụm rạp của nhà nước chỉ chiếm 20%. Hai đại diện tạm coi là đủ sức đối đầu với hệ thống rạp tư nhân, là BHD (với 4 cụm rạp trên cả nước: BHD 3 Tháng 2; BHD Cineplex Icon 68; BHD Phạm Hùng; BHD tại Trung tâm Thương mại Vincom Quang Trung- TP Hồ Chí Minh )và Galaxy với 5 cụm rạp và 25 phòng chiếu. Một đơn vị trong nước cũng vừa gia nhập thị trường kinh doanh rạp chiếu phim và phát hành phim là Mega GS (hợp tác giữa 2 đơn vị: Saigon Media và Sóng Vàng Group) với  6 phòng chiếu. Ngoài những đơn vị này, thì những cụm rạp khác như Rạp Tháng 8, rạp Dân chủ, Ngọc Khánh hay cụm rạp tại các tỉnh hiện nay chỉ hoạt động cầm chừng.
Phát hành và phổ biến phim: “Gỡ” khó cho doanh nghiệp trong nước - ảnh 2
Rạp Galaxy Quang Trung - Gò Vấp (Ảnh: Internet)
Phát hành và phổ biến phim: “Gỡ” khó cho doanh nghiệp trong nước - ảnh 3
Rạp chiếu phim Ngọc Khánh - Hà Nội (Ảnh: Internet)

Trong khi đó, chiếm đến 80% thị trường, các công ty tư nhân có yếu tố nước ngoài đang đứng ở thế áp đảo. Có thể kể đến những cái tên đình đám, như hệ thống rạp CGV (với 27 cụm rạp, 176 phòng chiếu phủ khắp 10 thành phố lớn trong cả nước); Lotte Cinema (với 16 cụm rạp); Platinum (được thành lập bởi Tập đoàn Multivision từ Indonesia) với 5 cụm rạp. Những “ông lớn” này cũng đã xây dựng một kế hoạch “thống trị” trong tương lai, khi CGV đặt mục tiêu có 55 cụm rạp trên toàn quốc, tiếp tục củng cố vị trí số 1 của mình ở thị trường rạp chiếu phim; Platinum cũng đặt mục tiêu có 10 cụm rạp trên toàn quốc và chính thức tấn công thị trường TP HCM sau Hà Nội, Nha Trang.
Không chỉ lép vế về quy mô và số lượng, trong cuộc chạy đua này, các cụm rạp nội địa cũng chịu không ít thiệt thòi khi phải gánh thêm mức thuế. Trước đây, doanh nghiệp Việt phải chịu mức thuế doanh nghiệp  25%, từ năm 2014, mức thuế giảm còn 22% và theo quy định của nhà nước, đến năm 2016 còn 20%. Đối với các phim Việt Nam sau khi được Hội đồng phim Trung ương cho điểm đạt từ 6,5 trở lên, các đơn vị sản xuất phim này được miễn giảm 10% thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài được hưởng chế độ miễn, giảm thuế. Dù hoạt động theo đúng Luật doanh nghiệp nhưng việc kinh doanh cùng một ngành nghề, vốn đầu tư ít, mức thuế đóng cao hơn khiến các đơn vị trong nước luôn ở vào thế yếu.
Đó là chưa kể đến việc tỉ lệ ăn chia doanh thu, đặc biệt đối với các phim Việt do các đơn vị trong nước đầu tư - sản xuất, luôn ở mức bất lợi. Nhiều phim Việt phải chấp nhận tỉ lệ ăn chia chênh lệch rất cao 70-30 (30 thuộc về chủ phim Việt) nếu muốn phim được phát hành rộng rãi trên các hệ thống rạp chiếu của các đơn vị nước ngoài.
Chênh lệch mức hưởng thụ
Chưa khi nào việc phổ biến phim lại phát triển như hiện nay, từ chỗ những bộ phim bom tấn của nước ngoài, dân Việt luôn phải xem sau hàng tháng trời, thì nay, người Việt đã được thưởng thức những tác phẩm điện ảnh lớn cùng thời điểm với thế giới. Từ chỗ ít thông tin về phim sắp chiếu, thì nay, trước khi công chiếu thì bất kỳ phim nào cũng được quảng cáo, PR rộng khắp để công tác công chiếu được hiệu quả hơn.
Bên cạnh những cụm rạp tư nhân phát triển thì Trung tâm chiếu phim quốc gia là một trong những đơn vị nhà nước hiếm hoi làm công tác phổ biến phim rất thành công đến thời điểm hiện tại. Phim Việt hay phim ngoại nhập đều được phân bổ đồng đều tại cụm rạp này. Tuy nhiên, dường như đây mới chỉ là câu chuyện ở những thị trường lớn, như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, còn tại thị trường tỉnh, việc phổ biến phim vẫn luôn là điểm hạn chế.
Chỉ cách Hà Nội chưa đến 100 km, xong phải mất đến 1 đến 2 tháng, một sản phẩm điện ảnh đã được công chiếu ở Thủ đô mới được công chiếu tại Ninh Bình. Tình trạng này đã tồn tại nhiều năm qua, đến mức, giờ người ta coi đó là chuyện rất bình thường.
Nguyên nhân dẫn đến thực tế này là do địa phương khá eo hẹp về nguồn phim. Theo ông Vũ Quang Hưng, Giám đốc Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng tỉnh Ninh Bình, hiện Trung tâm chủ yếu là thuê lại nguồn phim của hãng điện ảnh Vi na (Sài Gòn), các phim chính hãng của các nhà sản xuất lớn do điều kiện doanh thu và do hạn chế về mặt trang thiết bị nên chưa thuê được.
Còn hiện nguồn phim duy nhất từ phía Cục điện ảnh chuyển về là những bộ phim đặt hàng mang tính chính trị, tuyên truyền của nhà nước. Có thể những thị trường này, những phim thương mại bán vé thu tiền như tại những thành phố lớn không phải lúc nào cũng phù hợp và không biết đến khi nào mới là phù hợp, thì rõ ràng, xét về cục diện, văn hóa thưởng thức điện ảnh của nhân dân các tỉnh nhỏ là rất thiệt thòi đến thời điểm hiện tại. Có thể nói đây là điểm đáng bàn nhất trong vấn đề phổ biến phim hiện nay.
Theo đại diện hãng phim Fafim, quy trình phổ biến phim tại Việt Nam vẫn đang hoạt động theo kiểu “xoay vòng”. Nghĩa là, Trước đây Fafin khi nhập phim từ các nước, thời kỳ phim nhựa, thì một tên phim có thể nhập cao nhất tối đa là 30 - 40 bản phim, mà trong cả nước có thời điểm có đến 1000 đến 2000 rạp chiếu phim, chưa kể hàng trăm đội chiếu bóng lưu động nữa, cho nên phải chấp nhận chiếu phim theo vòng, vòng 1, 2, 3. Ví dụ, bộ phim Người về từ sao hỏa, khởi chiếu ngày 2-10 sau đó 7 ngày, các đơn vị lại đăng ký vòng 2 và 14 ngày sau đó lại đến những đơn vị đăng ký vòng 3. Đến bây giờ việc phổ biến phim cũng vẫn được duy trì như vậy.
Bên cạnh đó, vấn đề doanh thu không đảm bảo các đơn vị phát hành phim cũng không mấy mặn mà với việc đưa phim phát hành tại các địa phương là lẽ thường tình. Theo ông Nguyễn Văn Nhiêm, Chủ tịch Hiệp hội phát hành và phổ biến phim Việt Nam: Ở các vùng nông thôn vùng sâu vùng xa đang tồn tại một nghịch lý,  nếu chỉ nhìn vào lợi nhuận trước mắt thì rất khó thu hút nhà đầu tư, tuy nhiên, nhìn về số lượng khán giả thì đó lại là một thị trường đáng mơ ước. Ví dụ như những bộ phim Người viết huyền thoại; Mùi cỏ cháy, Đường xuyên rừng... được  bà con đón nhận vô cùng nhiệt tình.
Nhiệm vụ của Hiệp hội là động viên, chia sẻ để các nhà làm phim có chiến lược phát triển dài hạn đối với thị trường tiềm năng này trong tương lai, đồng thời hiệp hội cũng sẽ huy động hội viên để có những khoản kinh phí nhất định để hỗ trợ những nhà phát hành phim, làm sao để bà con có ghế ngồi xem phim chứ không phải xem phim ghế nhựa ngoài bãi như bây giờ.
Phát huy vai trò “nhạc trưởng”
Ngày 2-10, Hiệp hội Phát hành và Phổ biến phim Việt Nam ra đời gồm 13 thành viên. Trước sự lớn mạnh của hệ thống phát hành, phổ biến phim VN, việc hiệp hội ra đời trong bối cảnh còn nhiều khó khăn và thách thức về công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật, khó khăn về nguồn vốn đầu tư, môi trường cạnh tranh khốc liệt với sự tham gia của các tập đoàn lớn của nước ngoài...  là cần thiết.
Tuy nhiên, với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc nỗ lực thực hiện mục tiêu “bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên; đấu tranh chống những hành vi độc quyền, tranh chấp thị trường, xâm phạm lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên trong lĩnh vực phát hành và phổ biến phim tại Việt Nam” là bài toán còn nhiều nan giải, đặc biệt trong bối cảnh các DN trong nước bị lép vế rất rõ rệt.
Ghi nhận thực tế cho thấy hoạt động kinh doanh trong bất cứ lĩnh vực nào không thể tránh khỏi quy luật cạnh tranh. Đối với lĩnh vực đặc thù như phát hành và phổ biến phim, việc để tình trạng độc quyền thị trường hay dùng các chiêu trò cạnh tranh không lành mạnh sẽ khiến các DN trong nước gặp rất nhiều bất lợi. Tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt những nước có nền công nghiệp điện ảnh phát triển như: Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản... đều có những hội nghề nghiệp tương tự để bảo vệ quyền lợi của DN trong nước. Các hội nghề này luôn có cơ chế đặc thù để bảo vệ phim nội địa: kiểm soát số lượng phim ngoại nhập; quy định tỉ lệ ăn chia giữa các nhà phát hành, phân phối; đề ra chính sách ưu ái nhằm thúc đẩy các DN trong nước...
Hy vọng, Hiệp hội phát hành và phổ biến phim tại Việt Nam ra đời sẽ giữ vai trò tập hợp, đoàn kết toàn thể hội viên; tạo ra môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh, công bằng, bình đẳng; bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của hội viên trong kinh doanh, không để hội viên bị chèn ép và thôn tính; phát huy sức mạnh tập thể, tạo vị thế, chỗ đứng bền vững trong lĩnh vực phát hành và phổ biến phim; tự tin vững vàng hội nhập quốc tế trên thị trường trong nước đang phát triển mạnh mẽ. Đúng như mong muốn của các nhà quản lý và doanh nghiệp điện ảnh nội địa.
TD
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác