Phó GĐ TTSX phim truyền hình Việt Nam, Đỗ Thanh Hải: Đổ đồng, khoán trắng khó khuyến khích sáng tạo

Sau thành công với hàng loạt bộ phim truyền hình, đạo diễn Đỗ Thanh Hải đã lui vào hậu trường để chuẩn bị cho dự án làm phim truyền hình nhiều tập theo công nghệ mới. Sau hai năm, anh đã trình làng “Những người độc thân vui vẻ” và “Ngôi nhà có nhiều cửa sổ” (làm giám đốc sản xuất) thu hút đông đảo người xem quan tâm. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với anh về xu hướng sản xuất phim truyền hình hiện nay.

Phó GĐ TTSX phim truyền hình Việt Nam, Đỗ Thanh Hải: Đổ đồng, khoán trắng khó khuyến khích sáng tạo - ảnh 1

PV: Ngôi nhà có nhiều cửa sổ đang được phát sóng trên VTV1 khai thác đề tài nhạy cảm về thanh thiếu niên trước ngưỡng cửa cuộc sống với công nghệ làm phim mới, bản thân anh và đoàn làm phim hẳn gặp không ít  khó khăn?

Đạo diễn Đỗ Thanh Hải: Ngôi nhà có nhiều cửa sổ dài 106 tập (25 phút/tập), được thực hiện trong khuôn khổ dự án tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS của Bộ Y tế do Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp thực hiện. Đây là bộ phim mang tính giáo dục rất cao, hướng tuổi trẻ đến cuộc sống lành mạnh và hữu ích, tránh xa các tệ nạn xã hội. Kịch bản do nhóm chuyên gia người Anh viết. Nhiệm vụ của chúng tôi là chuyển tải bức thông điệp đó hấp dẫn, thuyết phục nhất.

Phim được sản xuất theo công nghệ, quy trình mới, vừa làm vừa phát sóng, tiếp thu phản hồi khán giả để điều chỉnh phim hay hơn, phù hợp hơn. Yêu cầu diễn xuất của diễn viên tương đối khắt khe. Diễn viên ngoài việc diễn xuất tốt, phải có giọng nói biểu cảm vì phim thu thanh đồng bộ thay cho thói quen lồng tiếng trước đây.

Bên cạnh đó, kết cấu kịch bản nước ngoài có đặc thù riêng, lời thoại ngắn, tiết tấu nhanh, nhiều sự kiện, nhiều tuyến nhân vật cùng xuất hiện trong một cảnh quay. Điều đó tăng kịch tính cho phim, khán giả khó đoán được câu chuyện sẽ diễn ra tiếp theo là gì. Trong khi đó, chúng ta vẫn quen với mô hình sản xuất cũ. Kết cấu đối thoại theo trình tự, lần lượt. Diễn viên nói nhiều hơn là diễn bằng hành động, nội tâm... 

Phó GĐ TTSX phim truyền hình Việt Nam, Đỗ Thanh Hải: Đổ đồng, khoán trắng khó khuyến khích sáng tạo - ảnh 2
Những năm gần đây chuyện các hãng phim Việt Nam mua kịch bản nước ngoài để sản xuất không phải là hiếm. Anh nhìn nhận sự vay mượn này như thế nào?

- Việc nhiều hãng phim dùng kịch bản nước ngoài hay có sự tham gia của người nước ngoài viết kịch bản là do thiếu đội ngũ viết kịch bản chuyên nghiệp trong nước. Thực tế hiện nay, viết kịch bản cho phim truyền hình đang do những người từ lĩnh vực điện ảnh hoặc văn học đảm nhiệm.

Trong khi đó, mỗi loại hình lại có những đặc thù riêng. Hơn nữa, chúng ta thường có thói quen gửi trọn gói kịch bản cho đạo diễn trong khi ở nước ngoài, họ vừa viết kịch bản vừa sản xuất.

Trong quá trình sản xuất, người viết kịch bản và đạo diễn luôn phối hợp chặt chẽ, trao đổi thường xuyên với nhau. Thị hiếu khán giả cũng là yếu tố quan trọng để điều chỉnh kịch bản phù hợp. Những kỹ năng này rất quan trọng để người viết kịch bản học hỏi, hướng đến tính chuyên nghiệp. Bởi lẽ, làm một bộ phim dài tập luôn cần đầu tư lớn, nghĩa là nhiều rủi ro nên phải cận thận từng khâu.

Trên thế giới, việc vay mượn kịch bản đã rất phổ biến. Bài toán đặt ra là nhà sản xuất, người quyết định mua bản quyền phải đánh giá, nhìn nhận chuẩn xác để lựa chọn và quyết định. Sau đó, chúng ta phải có đội ngũ biên tập, người viết kịch bản tham gia để chuyển thể sao cho phù hợp với văn hoá và tâm lý người xem Việt Nam. Thực tế, không ít chi tiết phim bị Tây hoá. Ngôn ngữ cũng còn nhiều hạn chế, gượng và nhiều khi không phù hợp với tính cách nhân vật.

Mặt khác, quy trình sản xuất trong nước chưa đáp ứng được sự chuyển hoá nội dung kịch bản này. Việc kịch bản phải “vo” lại để phù hợp với quy trình sản xuất là chuyện thường xảy ra, ảnh hưởng lớn đến chất lượng phim. “Cái khó bó cái khôn” là vậy. 

Sản xuất phim nhiều tập có phải là chiến lược phát triển của phim truyền hình Việt Nam không, thưa anh?

- Ở nước ngoài, phim kéo dài hàng tháng, hàng năm là chuyện thường. Rõ ràng, đây là một hướng chính mà những người sản xuất phim truyền hình đang hướng đến. Bởi lẽ, khác điện ảnh, phim truyền hình là những câu chuyên dài, liên hồi, các sự kiện liên tiếp thắt, mở nút tạo sức hấp dẫn riêng. Trong quá trình phát sóng, dựa vào phản hồi từ phía khán giả mà nhà sản xuất xem xét nên tiếp tục sản xuất nữa hay không.

Càng ngày người xem càng có nhiều nhu cầu và sở thích lựa chọn kênh xem. Vì thế những serie phim bám vào từng nội dung cụ thể như vụ án, hài hước, tâm lý… là điều cần thiết. Truyền hình ngoài việc cung cấp thông tin thì yếu tố giải trí cũng là một phần quan trọng đem lại lợi nhuận cho hoạt động của nhà sản xuất. Phim truyền hình cũng là một hình thức giải trí

 Có phải vì thế mà phim truyền hình Việt Nam bị coi là tính giải trí lấn át tính nghệ thuật?

- Những năm gần đây, các đài truyền hình chủ trương phát sóng nhiều phim nội, hạn chế tối đa phát sóng phim Trung Quốc, Hàn Quốc nên lượng phim được sản xuất ồ ạt. Nếu gọi là phim truyền hình thì phải có công nghệ sản xuất mang đặc thù của nó. Song thực tế chúng ta chưa có kinh nghiệm cũng như chưa có quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng yếu tố kỹ thuật, con người. Quan trọng nhất là trường quay thì vẫn phải mượn, nhờ, hoặc thuê. Việc sản xuất phim ào ào, chắp vá, chạy theo khối lượng mà ít chú ý đến chất lượng đã bị dư luận chỉ trích nhiều. Nhưng tôi cho rằng đây chỉ là giai đoạn quá độ để sàng lọc và những đơn vị làm phim chuyên nghiệp, những sản phẩm tốt sẽ ngày càng khẳng định để tồn tại lâu dài.

Là người gắn bó và đạt được thành công nhất định trong lĩnh vực phim truyền hình, theo anh có “cây đũa thần” nào giúp phim truyền hình Việt Nam hấp dẫn khán giả hơn?

- Có được những phim nhiều tập hay, thu hút người xem quan tâm, có được đội ngũ làm phim chuyên nghiệp là tâm huyết của tất cả những ai coi nghề này là cái nghiệp của mình. Hiện nay việc thiếu kịch bản là vấn đề nổi cộm trong sản xuất phim truyền hình. Đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ viết kịch bản là việc làm cần thiết và cấp bách.

Theo tôi, mua bản quyền kịch bản của nước ngoài như hiện nay chỉ là tạm thời. Tiến tới chúng ta phải có kịch bản chính của mình. Phấn đấu phim sản xuất theo từng dự án, sau đó lập kế hoạch cụ thể, khả thi và cả những rủi ro trong quá trình thực hiện. Những vấn đề liên quan đến quy trình sản xuất phải nằm lòng, tránh việc thiếu gì mới đi tìm hoặc phải chấp nhận dù biết là kém chất lượng. Đặc biệt, phấn đấu có được trường quay.

Về đội ngũ đạo diễn, quay phim, diễn viên… cần được đào tạo bài bản hơn đủ để làm nghề lâu dài chứ không tạm bợ. Hiện nay đội ngũ này chủ yếu “nhặt” từ điện ảnh mà chưa có sự chuyên môn hoá. Một người một lúc phải kiêm nhiệm nhiều vai trò nên khi gặp sai sót, đạo diễn buộc phải tặc lưỡi cho qua. Sản xuất phim  theo kiểu có chăng hay chớ nên phim hời hợt về nội dung, nhàm cũ về hình thức là điều dễ hiểu.

Mặt khác, tư duy người quản lý, duyệt tài chính vẫn áp mức quy định cũ, không còn phù hợp nên người làm khó chuyên tâm sống bằng nghề. Khung giá đầu tư cho mỗi tập phim đều được đổ đồng, khoán trắng. Như thế khó lòng khuyến khích được sự sáng tạo… 

Phó GĐ TTSX phim truyền hình Việt Nam, Đỗ Thanh Hải: Đổ đồng, khoán trắng khó khuyến khích sáng tạo - ảnh 3
Trong xu thế chung của hoạt động nghệ thuật là theo phương thức xã hội hoá, sau hơn một năm, các hãng phim nhà nước và hãng phim tư nhân cùng hợp tác sản xuất phim truyền hình đã gặt hái được những thành công nhất định. Cá nhân anh có tin vào con đường này không?

- Xã hội hóa sản xuất phim truyền hình, nhân dân và nhà nước cùng hợp tác là hướng phát triển cần được ủng hộ. Giai đoạn đầu, sự liên kết này được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhà nước luôn có “khung” định mức trong sản xuất phim nhưng với thực tế xã hội phát triển nhanh, nhiều cạnh tranh đã không còn phù hợp.

Việc các Đài truyền hình nhà nước đặt hàng cho tư  nhân sản xuất là để huy động nguồn lực kinh tế, thu hút nhiều nhân lực bên ngoài xã hội cùng tham gia, phần nào khắc phục được những mô hình quản lý gò bó đã tạo ra một số cản trở cho quá trình sản xuất.

Còn tư nhân linh động trong việc định giá sáng tạo, mạnh dạn thay đổi hình thức tổ chức, đồng thời dám đương đầu với những rủi ro để phát triển.

Tuy nhiên, các đơn vị tư nhân lại thiếu người quản lý chuyên môn, thiếu đội ngũ làm nghề có kỹ năng nên việc phối hợp, đôi bên cùng hỗ trợ đã đem lại những hiệu quả nhất định, thúc đẩy phát triển. Sự hợp tác này, vì thế đã tạo ra một dòng phim truyền hình Việt, đáp ứng được thời lượng phát sóng và bước đầu có những thành công nhất định. Cụ thể nhất là những phim nước ngoài phát sóng ồ ạt như trước kia đã không còn nữa. Về sâu xa, đây là cái lợi lớn nhất cho cả xã hội.

Tuy nhiên, mặt trái của cái “bắt tay” này là khi các hãng tư nhân biến dự án làm phim thành dự án kinh tế thuần tuý, nên chất lượng phim không được quan tâm. Theo tôi, nếu tìm được tiếng nói chung sẽ tạo được tính cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà sản xuất.

Tới đây, Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam đang có dự án kết hợp với nhiều đơn vị tham gia sản xuất phim về đề tài chiến tranh, hậu chiến dưới cái nhìn của con người hiện đại.

Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!

Theo ND

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác