Ðể lễ hội vẫn giữ được bản sắc văn hóa

Lễ hội-cây cầu nối quá khứ với hiện tại, bao đời nay đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa cộng đồng. Nhưng gần đây, sự gia tăng cả về quy mô và số lượng, cũng như sự nảy sinh một số hiện tượng bất thường từ lễ hội đã khiến việc quản lý văn hóa tại lễ hội trở thành một vấn đề cần nhanh chóng giải quyết...

Ðể lễ hội vẫn giữ được bản sắc văn hóa - ảnh 1

Từ  bao đời nay, lễ hội luôn giữ vai trò như sợi dây gắn kết cộng đồng, tạo dựng không gian văn hóa vừa trang trọng, linh thiêng, vừa tưng bừng, náo nức. Lễ hội trở thành nơi công chúng đến với lịch sử cha ông, trở về với cội nguồn dân tộc, tưởng nhớ công ơn người đi trước, cầu mong những điều tốt lành. Ðồng thời là nơi người dân được vui chơi, giải tỏa, bù đắp về tinh thần. Tuy nhiên thời gian qua, từ thực trạng của hoạt động lễ hội, dường như ý nghĩa thiêng liêng đó đã ít nhiều suy giảm trước sự xâm lấn của yếu tố xã hội hóa, thương mại hóa và các hiện tượng tiêu cực khác.

Có một điều cần quan tâm là hằng năm, các lễ hội lớn như: chùa Hương (Hà Nội), Yên Tử (Quảng Ninh), đền Hùng (Phú Thọ), Bà Ðen (Tây Ninh), đền Trần và Phủ Dầy (Nam Ðịnh), Chùa Bà (Bình Dương), đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh)... thường thu hút hàng triệu khách thập phương hành hương dự lễ, nhưng  chắc cũng không nhiều người hiểu được thần tích, không gian văn hóa và giá trị riêng của lễ hội họ tham gia. Ði lễ mà không hiểu đối tượng hành lễ là ai, ý nghĩa của lễ hội là gì, cần phải ứng xử ra sao, đó là nguyên nhân khiến lễ hội đền Trần chưa năm nào thoát khỏi cảnh ùn ùn kéo đến xin ấn, thậm chí "cướp ấn" vì ngỡ có ấn này sẽ được thăng quan, tiến chức. Ðó cũng là nguyên nhân dẫn đến quan niệm lệch lạc đã dự lễ hội là phải quyên tiền công đức, bằng không sẽ mắc tội với thánh thần. Khi người dự hội sẵn sàng rút tiền để "mua chuộc thần linh", thì kẻ vụ lợi càng có cơ hội kiếm trác. Ðiều này lý giải tại sao khi tới lễ hội đền Bà Chúa Kho, có thể thấy quanh khu vực đền xuất hiện thêm rất nhiều nơi thờ tự mới, chủ yếu là để "hút" tiền công đức. Tại chùa Hà (Hà Nội) cũng vậy, bên khung cảnh trang nghiêm, thanh tịnh là la liệt chậu nhôm, mâm nhôm hứng tiền "giọt dầu" từ người đi lễ. Tiền công đức khó quản nên mạnh ai nấy làm, có nơi sau mỗi mùa lễ hội thu về tới hàng tỷ đồng, và không rõ số tiền ấy đi đâu, về đâu.

Cùng với quan niệm, ứng xử lệch lạc trong lễ hội có nguồn gốc từ việc hiểu sai, hay hiểu chưa đúng về ý nghĩa lễ hội, còn phải kể tới nhiều biểu hiện phi văn hóa khác như chen lấn, xô đẩy, khấn hộ, đốt vàng mã tràn lan... cùng hàng loạt các tệ nạn "ăn theo" như cờ bạc, trộm cắp, "chặt chém", xả rác bừa bãi... Ðây là hệ quả tất yếu mà trách nhiệm đầu tiên thuộc về người tổ chức, quản lý. Vì trên thực tế, lễ hội khó có thể phát huy được bản sắc nguyên gốc khi ngay bản thân người tổ chức còn chưa (không) nắm vững ý nghĩa và giá trị đích thực của lễ hội. Hội Lim gần đây đã lấy điểm nhấn là xác lập kỷ lục Ghi-nét Việt Nam với tư cách lễ hội có nhiều người  mặc trang phục dân tộc cùng hát dân ca quan họ nhất. Ðành rằng, đây là hoạt động có ý nghĩa thu hút người tham gia và khuếch trương phong trào hát quan họ, song việc lấy đó làm mục tiêu cho lễ hội liệu có phù hợp? Không gian thân tình, gần gũi của khúc hát quan họ trong hội Lim liệu có còn nguyên ý nghĩa khi mà 3.000 người cùng xếp hàng đồng ca một bài quan họ trong vòng vây của rào chắn và lực lượng bảo vệ?

Bên cạnh đó, sự đua chen tổ chức lễ hội một cách vô tội vạ, sự học tập, tiếp thu một cách xô bồ, thiếu chọn lọc của những thôn, làng, xã tại nhiều địa phương nước ta càng làm cho bộ mặt văn hóa lễ hội thêm méo mó. Theo thống kê, nước ta hiện có gần 8.000 lễ hội, tức là mỗi ngày, bình quân có tới hơn 20 lễ hội. Song thực tế cho thấy, hiếm tìm được lễ hội vẫn còn giữ được bản sắc riêng. Ði hội chùa Hương cũng na ná đi hội Bà Chúa Kho, đi hội Yên Tử cũng từa tựa đi hội cố đô Hoa Lư... Không khó để nhận ra, các lễ hội đang tăng mạnh về lượng, nhưng cũng giảm mạnh về chất. Ðấy là chưa tính chuyện, các địa phương còn đang có xu hướng thi nhau tổ chức các festival thu hút du lịch nhưng tổ chức không đến "độ" nên hiệu quả thu được chẳng là bao.  Cho nên, đã có tình trạng, khi xây dựng đề án lễ hội, địa phương khẳng định khai thác kinh phí từ nguồn xã hội hóa, nhưng khi kế hoạch được duyệt, đến phút cuối không huy động đủ kinh phí lại đành sử dụng ngân sách địa phương, gây tốn kém, thất thoát. Trước vấn nạn gia tăng ồ ạt của các lễ hội, liên hoan, trả lời phỏng vấn của báo chí, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia TS Lê Thị Minh Lý bày tỏ băn khoăn: Có nhiều lễ hội vốn chỉ mang quy mô rất nhỏ, sau đó được nâng tầm, tổ chức lại và đưa thêm vào các sự kiện khác, làm lu mờ hạt nhân là phần lễ hội của cộng đồng. Vì thế, cần kiểm kê và nhận diện cho được lễ hội nào thật sự cần thiết, thật sự gắn bó mật thiết với người dân để tiến hành gìn giữ và thực hành lễ hội sao cho vừa văn hóa, vừa hiệu quả, tiết kiệm.

Thiết nghĩ, diện mạo văn hóa của lễ hội chỉ có thể trở nên gần gũi với truyền thống khi người tổ chức, quản lý lễ hội và người tham gia lễ hội thật sự am hiểu về giá trị, ý nghĩa của lễ hội, từ đó điều chỉnh hành vi và có ứng xử văn hóa khi tham gia lễ hội. Việc tổ chức, quản lý lễ hội hiện đang đứng trước mâu thuẫn: người được đào tạo về chuyên môn tổ chức thì thiếu hiểu biết kỹ lưỡng về lễ hội, người am hiểu văn hóa lễ hội thì lại ít tham gia vào khâu phục dựng và tổ chức, dẫn đến lễ hội vẫn diễn ra nhưng càng lúc càng xa rời ý nghĩa và giá trị lịch sử. Vì thế, để giữ gìn tính nguyên gốc của lễ hội, các cơ quan chức năng cần điều phối, ủy nhiệm và phân công các nhà nghiên cứu có tri thức về văn hóa lễ hội, những người có chuyên môn làm việc với ban tổ chức, giúp khẳng định đâu là giá trị cốt lõi của lễ hội ở địa phương mình, ai sẽ là người thực hành các giá trị đó và thực hành như thế nào để lễ hội gìn giữ, phát huy được nét đẹp văn hóa vốn có.

Ðể bảo đảm giá trị nhân văn sâu sắc và yếu tố tâm linh của lễ hội, cơ quan tổ chức lễ hội nên tuân thủ nghiêm ngặt về thời gian, địa điểm, nghi thức hành lễ, đạo cụ, trang phục, nội dung lễ hội. Khi phục dựng lễ hội, nhất thiết phải xác định các giá trị gốc, tiêu chí nhận dạng cũng như những biểu hiện đặc trưng của lễ hội, tránh làm sai lệch lễ hội mỗi lần khai thác.   Phó Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phạm Xuân Phúc  nhận định: Do kinh tế được cải thiện, nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng gia tăng nên số người tham gia lễ hội ngày một đông, thậm chí lễ hội trở thành "niềm tin" trong một bộ phận công chúng. Vì thế, đây thật sự là mặt trận đấu tranh về công tác tư tưởng, nếu không có giải pháp kịp thời, vô hình chung sẽ tạo sự khuyến khích, thúc đẩy người dân biến tín ngưỡng thành phong trào cầu xin, đánh mất giá trị văn hóa của lễ hội. Phó Chánh thanh tra Phạm Xuân Phúc cũng nhấn mạnh: Việc tổ chức và quản lý lễ hội hiện nay đang phải giải quyết mâu thuẫn, một bên cho rằng lễ hội dân gian ngày nay không còn giữ được nét đẹp nguyên sơ, một bên cho rằng lễ hội là sản phẩm du lịch thu hút khách thập phương. Vì thế, công tác tổ chức và quản lý lễ hội hiện nay đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ mối quan hệ giữa kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Những vấn đề liên quan đến văn hóa là không thể giải quyết vội vàng, vì thế, bên cạnh cơ chế xử lý tệ nạn trong lễ hội mang tính trực tiếp, tại chỗ, các cơ quan chức năng cần có kế hoạch dài hạn gắn liền với những biện pháp mang tính xây dựng đồng bộ. Chiến lược quan trọng nhất là cần đầu tư ngay cho việc đào tạo những người làm công tác quản lý, tổ chức văn hóa nói chung, cũng như những người hoạt động trong lĩnh vực quản lý lễ hội nói riêng. Bên cạnh đó, cần tập trung nhiều thời gian cho việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cộng đồng. Bởi chỉ giáo dục, đào tạo lâu dài trên diện rộng mới có thể làm thay đổi căn bản nhận thức và hành vi của người tổ chức và người tham dự lễ hội. Có thế, lễ hội mới được trả lại và phát huy bản sắc văn hóa vốn có.

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác