2 năm thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020

(Cinet)-Ngày 6/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020. Sau hơn 2 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả ấn tượng đạt được, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế và đề ra các giải pháp hữu hiệu thực hiện trong những năm tới.

2 năm thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 - ảnh 1

Ngay sau khi Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL và Quyết định số 1913/QĐ-BVHTTDL về phê duyệt chương trình phối hợp chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 làm cơ sở để các đơn vị, địa phương trong toàn ngành tổ chức thực hiện.

Trong 2 năm qua, việc tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã thu được nhiều kết quả, tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thực hiện dân chủ ở cơ sở, ổn định chính trị, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội.

Các yếu tố văn hóa và nhân tố con người được khai thác, phát huy, tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết các chính sách xã hội… góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển văn hóa, tạo môi trường văn hóa, nếp sống văn hóa lành mạnh, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, nâng cao một bước đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân.

Cụ thể, tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân có nhiều chuyển biến quan trọng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đang được mở rộng và đi vào chiều sâu mang lại hiệu quả thiết thực. Cả nước có gần 12.000 hương ước, quy ước văn hóa được xây dựng, góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá, trong đó' có nội dung thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc luôn được chú trọng, các giải pháp điều hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế xã hội được triền khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực; việc gắn kết giữa bảo tồn di sản văn hoá với phát triển du lịch, nâng cao đời sống kinh tế xã hội của địa phương. Nhiều di tích-lịch sử văn hoá quan trọng đã được tung tu tôn tạo, phát huy giá tri tích cực hờ thành những địa điểm du lịch hấp dẫn, tạo nguồn thu lớn. Trong 2 năm 2009-2010, có 04 di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO vinh danh, gồm: Đơn ca Quan họ Bắc Ninh, Hát Ca trù, Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long Hà Nội, Hội Gióng. . : ngoài ra Bia đá các khoa tiến sĩ đời Lê-Mạc tại Văn Miếu, Hà Nội được đưa vào danh mục đi sản tư liệu thuộc Chương trình ký ức thế giới.

Các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp có nhiều cố gắng trong việc dàn dựng tác phẩm, tiết mục và tổ chức biểu diễn. Tổ chức tốt các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn, phối hợp các Hội nghề nghiệp chuyên ngành và các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tố chức thành công nhiều Hội thi, Hội diễn, Liên hoan, Cuộc thi tài năng trẻ ca múa nhạc- sân khấu. Các ban, nhóm nhạc xã hội hoá hoạt động sôi động, tạo nên đời sống âm nhạc phong phú, đa dạng. Công tác thẩm định nội dung, duyệt đọc lưu chiểu, cấp phép các chương trình ca nhạc- sân khấu của các đơn vị nghệ thuật và các hãng sản xuất băng đĩa trên toàn quốc được duy trì thường xuyên….

Công tác sản xuất, phổ .biến và phát hành phim được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia, tạo được nguồn phim Việt phong phú, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, ngành điện ảnh có 69 đơn vị có chức năng sản xuất phim; 8 đơn vị có chức năng phát hành phùn và chiếu bóng…

Hoạt động văn hoá đối ngoại được chú trọng, phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả song phương và đa phương, góp phần tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, quảng bá cho hình ảnh đất nước, con người, văn hóa nghệ thuật Việt Nam đến với bạn bè thế giới bằng các Tuần văn hóa, Ngày văn hóa...

Hai năm qua, ngành đã cử 832 đoàn ra với 3.611 lượt người, 398 đoàn vào với 2.271 lượt người; công tác xây dựng các văn bàn pháp quy, điều ước quốc tế về hợp tác chuyên ngành được chú trọng, đã xây đựng và ký kết 23 văn bàn hợp tác quốc tê với các nước; tiếp tục tăng cường thu hút các nguồn lực từ bên ngoài hỗ trợ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành nhằm thực hiện chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa.

Hiện nay, cả nước có 58 Trung tâm Văn hoá Thông tin cấp tỉnh, thành phố, 4 Trung tâm Thông tin Triển lãm, 670 Phòng Vặn hoá cấp quận, huyện; 388 Trung tâm Văn hoá cấp huyện, 176 Nhà Văn hoá cấp huyện; 4.197 Nhà Văn hoá xã, 41.676 Nhà văn hoá làng (thôn, ấp, bản) và 41.086 đội Văn nghệ quần chúng, 684 đội TTLĐ, với tồng sô 4.442 cán bộ, tuyên truyền viên.

Thiết chế thư viện ngày càng được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư xây dựng. Hiện trong hệ thống thư viện công cộng có 63 thư viện cấp tỉnh, 626 thư viện huyện, hàng ngàn thư viện cấp xã, phòng đọc sách, tủ sách cơ sở. Thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng có bước đột phá mới…

Bên cạnh những kết quả nổi bật ấy, qua hai năm thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 cũng còn bộc lộ một số hạn chế như:sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, dân trí khu vực nông thôn, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc,.biên giới, hải đảo... còn nhiều thiếu thốn; Kinh phí cho hoạt động ngành, nhất là đầu tư ngân sách của địa phương cho hoạt động văn hóa còn thấp so với yêu cầu thực tiễn. Đời sống của đa số cán bộ, văn nghệ sỹ - những người làm công tác văn hóa còn gặp nhiều khó khăn; Công tác tuyên truyền, quảng bá văn hóa, đặc biệt là văn hóa nghệ thuật truyền thống và công tác giáo dục, định hướng văn hóa, thâm mỹ trong nhân dân, nhất là đối với thanh, thiếu niên, học sinh, công nhân... chưa được đầu tư đủ mạnh, hiệu quả thấp, thiếu sự phối hợp đồng bộ, quyết liệt giữa các ngành chức năng; Công tác quy hoạch, đầu tư phát triển thiết chế văn hóa còn chậm, chưa có sự đầu tư và kế hoạch khả thi để xây dựng các công trình văn hóa nghệ thuật có giá tri xứng tầm thời đại; Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức, chạy theo bệnh thành tích. Việc cưới, việc tang, lễ hội còn có những biểu hiện tiêu cực, hiện tượng thương mại hóa, mê tín dị đoan ở một số lễ hội chưa được xử lý triệt để…

Nhằm thực hiện tốt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, đạt và vượt các mục tiêu đề ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã đề ra các giải pháp thực hiện trong thời gian tới, cụ thể:

Một là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm và dứt điểm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa; đẩy mạnh cộng tác xã hội hóa, phát huy cao nhất vai trò của cộng đồng, xã hội trong phát triển văn hóa.

Hai là, tập trung xây dựng, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ chế, chế độ, chính sách trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật đặc biệt là cơ chế chính sách tài chính, đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích phát triển văn hoá như: chính sách xã hội hóa, đầu tư phát triển, khai thác các thiết chế văn hóa; chính sách phát triển văn hóa nông thôn; chính sách tuyên truyền, phổ biến phát huy giá tri văn hóa truyền thống cho thanh thiếu niên, học sinh; chế độ cho học sinh, sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật; chế độ đặc thù trong tuyển dụng, khen thưởng; chế độ bồi dưỡng, tập luyện, biểu diễn đối với lao động nghệ thuật phù hợp với thực tiễn; chế độ nghỉ hưu đặc thù đối với người lao động nghệ thuật biểu diễn, chính sách đối với người lao động nghệ thuật biểu diễn đã hết tuổi nghề nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu theo quy đinh của luật lao động. . .

Ba là, chú trọng, có kế hoạch cụ thể công tác tuyên truyền, định hướng về văn hoá; giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sông cho mọi tầng lớp nhân dân, trong đó đặc biệt chú trọng tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên; cụ thể hoá công tác tuyên truyền, định hướng về văn hoá thành nhiệm vụ trọng tâm của mọi cơ quan, đơn vi, cơ sở đảng, các tổ chức, đoàn thể và triển khai đến từng khu dân cư, từng hộ gia đình gắn chặt với phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" và các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động phát triển kinh tế - xã hội.

Bốn là, củng cố, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; xây dựng các công trình văn hóa nghệ thuật lớn xứng tầm thời đại; Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong quản lý và tồ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
2 năm thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 - ảnh 2

Năm là, chú trọng công tác thu hút, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, vặn nghệ sỹ có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức, có lối sống đẹp, gương mẫu, đi đầu trong công tác phát triển văn hóa. Coi trọng hơn nữa việc chăm lo bồi, dưỡng tài năng, nhất là đội ngũ cán bộ văn nghệ sỹ trẻ tuổi thông qua việc tuyển chọn, bồi dưỡng.

Sáu là, đầu tư phục dựng và phát triển các loại hình văn hóa, nghệ thuật truyền thống; đổi mới, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung thể hiện. Rà soát, đưa vào danh mục, xếp hạng những giá tri văn hoá cốt lõi, tinh hoa dân tộc, từ đó có giải pháp cụ thể để bảo vệ, phát huy. Đồng thời phát động cuộc vận động mọi người, một gia đình, mọi cơ quan, trường học, doanh nghiệp tìm hiểu và tôn vinh các giá trị văn hoá nghệ thuật truyền thông: Khuyến khích hoạt động văn học nghệ thuật để có nhiều tác phẩm giá tri, tác phẩm đỉnh cao.

Bảy là, tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém của ngành: bảo tồn, tôn tạo di tích; tổ chức lễ hội; tôn vinh và phát triển nghệ thuật truyền thống đầu tư, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật chất lượng cao; thực hiện nếp sống văn minh công cộng; nâng cạo đời sống văn hóa cơ sở, nhất là đời sống văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống văn hóa trong công nhân các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung. . .

Tám là, rà soát, thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá. Lồng chép chương trình phát triển văn hóa nghệ thuật với hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, ngành. Quan tâm hơn nữa công tác phục vụ đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo; công nhân, học sinh, sinh viên, người lao động; Khai thác có hiệu quả tiềm năng văn hoá, nghệ thuật trong nhân dân, đặc biệt là văn hoá dân gian...

Chín là, tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế trong văn hoá gắn với giới thiệu bản sắc văn hoá và quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam.

 

Vân Thành

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác