Bảo tàng là văn hoá, là giáo dục

(Cinet)-GS.TS Nguyễn Văn Huy- nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học- luôn nhận thức rằng: Giáo dục là một trong những chức năng quan trọng của bảo tàng, chứ không phải việc đơn thuần là giữ đồ và đem ra trưng bày.

Bảo tàng là văn hoá, là giáo dục - ảnh 1

Chính vì vậy, mặc dù đã nghỉ hưu hơn hai năm nay, nhưng tâm huyết của ông vẫn phần lớn dành cho việc làm sao góp phần biến đổi những tư duy cũ mòn vượt qua khái niệm "tham quan bảo tàng”.
Phóng viên Cinet đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyên Văn Huy xung quanh vấn đề này.

PV- Được biết ngay từ khi còn đương nhiệm Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, ông đã cho rằng cần triển khai ý tưởng giáo dục qua tham quan bảo tàng. Điều đó bây giờ còn đúng không, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Văn Huy: Cái yếu nhất ở ta bây giờ là mang giáo dục trong bảo tàng. Phần lớn các bao tàng chỉ làm chức năng tuyên truyền như cách đây 40, 50 năm. Định nghĩa mới nhất về bảo tàng trong tất cả những văn bản của UNESCO, ICO (tố chức quốc tế ve bảo tàng) thì đều cho rằng một trong những chức năng quan trọng nhất của nó là giáo dục. Ở ta, những người làm nghề đấu tranh mãi để đưa nội dung "giáo dục là một trong những chức năng của bảo tàng" vào Luật Di sản văn hóa sửa đổi. Nhưng cuối cùng lại chưa được thông qua. Có nhiều lý do để người ta, trong đó có lý do về mặt quản lý: Nếu làm giáo dục thì phải là chức năng phải do cơ quan nọ cơ quan kia quan lý như Bộ Giáo dục - Đào tạo (GD-ĐT), chứ không thể là của Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch (VHTTDL) quản lý được. Vậy thì ai sẽ là người quản lý, xây dựng chương trình... Tất cả những câu hỏi ấu trĩ tứê vẫn tồn tại thì tình trạng “chết" ở hầu hết bảo tàng Việt Nam là đương nhiên.

 

PV-Thực tế là qua tham quan, người xem vẫn có thể “thu hoạch”được những kiến thức nhất định và do vậy cũng có thể coi là bảo tàng đã làm được chức năng giáo dục của mình.., thưa ông?.

GS.TS Nguyễn Văn Huy: Lý do khiến bảo tàng Việt Nam rắt ít khách đến thăm là do nó chỉ dừng ở việc trưng bày đồ với vài dòng giới thiệu, quá ít chữ, quá ít lời, thiếu sự kết nối, hay nói cách khác là thiếu câu chuyện liên quan đến những hiện vật...Do vậy cũng rất khó để những khách tham quan bình thường có thể "thu hoạch" được cái gì đó. Người ta vẫn kêu gọi tăng cường chương trình đưa học sinh đến bảo tàng nhưng lại theo một phương thức rất cũ lạc hậu, mỗi lần có hằng ba, bốn trăm học sinh lũ lượt đến, nghe thuyết minh rồi về xem như một cuộc dã ngoại.

 

PV-Liệu đó có phải lý do khiến giới trẻ hiện nay hờ hững với lịch sử không, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Văn Huy: Tôi nghĩ cần làm rõ ngay rằng có phải học sinh hay thế hệ trẻ không quan tâm tới lịch sử, văn hóa dân tộc hay chỉ là không quan tâm tới môn Lịch sử được giảng dạy trong nhà trường. Bởi đây là hai vấn đề khác nhau. Môn Lịch sử và cách giảng dạy hiện nay có quá nhiều vấn đề mà báo chí và cộng đồng mạng đã nói, đã thảo luận. Tôi thấy không phải thế hệ trẻ quay lưng với văn hóa truyền thống, mặc dù thế hệ trẻ hiện có nhiều mối quan tâm hơn chúng ta ngày xưa, đặc biệt là khoa học - kỹ thuật và kinh tế thị trường.

Sống trong thời hiện đại này khiến họ phải học để trước hết thích ứng với xã hội đương đại. Đó là điều mừng. Còn mức độ quan tâm dành cho lịch sử, văn hóa thì còn phụ thuộc vào cách chúng ta truyền tải thông tin đến các em như thế nào.

Lịch sử văn hóa là những món ăn tinh thần. Nó cũng giống như chuẩn bị một bữa cơm. Cơm có nấu dẻo, thức ăn chế biến có khéo, có đủ gia vị thi người ta ăn mới thay ngon, mới thích ăn. Trách nhiệm về vấn đề này trước hết là ở cách làm, cách tổ chức của các “đầu bếp" là cơ quan văn hóa, giáo dục và truyền thông. Không nên đổ tất cả cho sự thay đổi kinh tế dẫn đến thay đổi về mối quan tâm tới lịch sử và văn hóa. Không nên đổ tất cả vào đầu thế hệ trẻ.

Có lẽ, đã đến lúc Bộ GD-ĐT và Bộ VHTTDL phải ngồi với nhau về phương thức phối hợp. Tại sao có một thiết chế văn hóa giáo dục hữu hiệu như thế mà lại tách rời nhau ra, không biết khai thác, vừa tốn tiền nhà nước vừa không hiệu quả.

 

PV-Vậy theo ông, nên làm thế nào?

GS.TS Nguyễn Văn Huy: Thực ra có rất nhiều cách giúp học sinh, thế hệ trẻ hiểu lịch sử, nắm vững văn hóa của dân tộc. Thực tế, nhiều bạn trẻ tự tìm đến Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, nhất là những dịp bao tàng tổ chức vui Tết Trung thu, các câu lạc bộ mùa hè. Các em đến vì muốn trải nghiệm văn hóa truyền thống, muốn được chơi mà thông qua chơi là học lịch sử và văn hóa. Cho nên cần phải thay đổi căn bản cách giúp học sinh tiếp cận với lịch sử và văn hóa. Phải thiết kế những cách làm sáng tạo để khuyến khích tính chủ động khám phá, tìm tòi lịch sử, văn hóa của học sinh chứ không phải bắt học sinh học thuộc lòng như cách làm của cả trăm năm trước. Khuyến khích ứng dụng các phương tiện truyền thông hiện đại mà các em ưa thích vào những công việc liên quan đến lịch sử và văn hóa, thông qua đó mà tự chúng học hỏi. Hay giúp học sinh có cơ hội tự khám phá và tự trình bày về những di tích lịch sử, địa điểm văn hóa không ở đâu xa mà ở ngay chung quanh mình, chung quanh trường học của mình.

Tìm hiểu lịch sử hãy bắt đầu từ những con người cụ thể, từ những gì và những nơi gần gũi nhất. Đó là cách tư duy mới. Làm được như vậy, tôi hy vọng học sinh và thế hệ trẻ của chứng ta sẽ hấp thu lịch sử, văn hóa truyền thống một cách nhẹ nhàng, sẽ hiểu và yêu lịch sử hơn.

 

PV-Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội sắp hoàn thành, liệu có gì đổi mới trong giáo dục không, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Văn Huy: Về cơ bản, đề cương vẫn thể hiện những cách chức trưng bày như cũ cả về nội dung và hình thức. Ví dụ phần "Việt Nam - Đất nước - Con người" mà chỉ có mấy tiêu bản, hình ảnh Việt Nam, hình ảnh 54 dân tộc... thì chắc chắn chẳng có ai muốn đến xem. Tôi có đề xuất thế này: Nói câu chuyện thiên nhiên không chỉ là nói về lịch sử hình thành thiên nhiên từ triệu, ngàn năm trước mà trước hết phải nói đến thiên nhiên đương đại Việt Nam nó liên quan như thế nào đến cuộc sống hiện tại từ đó mà ngược về lịch sử. Thông qua nhưng câu chuyện về bão lũ chẳng hạn: Sự hình thành bão Biển Đông thế nào, mùa nào nó vào Việt Nam, tàn phá ra sao... những con người nào có cuộc sống gắn liền với những câu chuyện ấy; nó ảnh hưởng đền các miền, với bà con đi biển, sự cứu trợ lẫn nhau của người dân như thế nào, của chỉnh phủ ra sao... Nói về động đất, núi lở thì nói về kết cấu địa chất, người dân tộc nào sống ở những nơi hay bị lở núi, giới thiệu các dân tộc đó (Mông, Dao, Hà Nhì) chứ không nên có phần tách biệt riêng giới thiệu các dân tộc... Tri thức của người ta ở những vùng đó như thề nào đề người ta chống chọi với những thiên tai. Nói về sông ngòi thì nói tại sao sông Tô Lịch chết, sông Hồng cạn, sông Mêkông bị sa bồi đi... Điệu đó ảnh hướng đến cư dân trong vùng thế nào... Tại sao không tổ chức đi quay video, làm những phỏng vấn để xây dựng thành những câu chuyện sống động trưng bày trong bảo tàng như bộ đội cứu hộ thế nào, sự dũng cảm của người dân ra sao.

Khi tôi đề xuất vấn đề này, nhiều người ái ngại cho rằng đó là vấn đề nhạy cảm. Theo tôi chẳng có gì là nhạy cảm ở đây cả. Bảo tàng làm thế nào phải cập nhật được những vấn đề xã hội, truyền thông đang quan tâm, chứ không thể chỉ đưa ra những manơcanh về người dân tộc, những mẫu đất đá... như thế kỷ XIX được. Đấy mới là câu chuyện, dữ liệu hay nhất về “Việt Nam - Đất nước - Con người” mà Bảo tàng Quốc gia tương lai cần phải có để nó thành một bảo tàng sống.

 

PV-Nhiều người cho rằng, cách trưng bày trong các bảo tàng gần như từ một khuôn mẫu, điều đó khiến khách tham quan không hứng thú, ý kiến ông thế nào?

GS.TS Nguyễn Văn Huy: Đúng vậy, đó là sự lãng phí ghê gớm. Hiện chỉ có khoảng năm nhóm chuyên thiết kế trưng bày cho các bảo tàng phía Bắc (từ Quảng Trị trở ra, trong đó có ba nhóm chính). Người ta không toàn tâm toàn ý tìm hiểu chức năng, đặc điểm cũng như những hiện vật hiện có ở mỗi bảo tàng mà chỉ xem qua mặt bằng, kho hiện vật, làm việc với tỉnh với Sở VHTTDL rồi về. Một vài tuần hoặc tháng sau có thiết kế trưng bày trên cơ sở danh mục các hiện vật bảo tàng cung cấp. Trong khi đó, chúng tôi làm với các chuyên gia Pháp trước đây ở Bảo tàng Dân tộc học cũng như hiện nay ở năm bảo tàng (Phụ nữ, Đắc Lắc, Chăm Đà Nẵng, Chứng tích chiến tranh ở TP. Hồ Chí Minh và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở TP. Hồ Chí Minh) trong dự án lớn của Chính phủ Pháp giúp Việt Nam hiện đại hóa bảo tàng nhằm phát huy di sản lịch sử - văn hóa và giúp các bảo tàng trên trở thành những công cụ giáo dục và phát triển hiệu qủa - người làm thiết kế trưng bày phải mất hàng năm làm việc với từng hiện vật để có thể có những giá kệ trưng bày phù hợp, ánh sáng hợp lý, hệ thống đồ họa, kiểu chữ, màu sắc với những thông tin sống động.

Ngày 12/1/2010, hai phòng trưng bày mẫu Văn hóa Óc Eo và Văn hóa Cham pa của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (TP. Hồ Chí Minh) khánh thành và tôi tin sẽ tạo cho người xem một cái nhìn mới về phong cách trưng bày hiện đại. Bên cạnh đó chất lượng và nội dung hoạt động của mỗi bảo tàng phải rất phong phú, đa dạng.

PV: Xin cảm ơn ông!

 

VT (Thực hiện)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác