Bảo tồn Di sản Huế giai đoạn 2010 - 2020: Làm cho Huế giàu hơn, đẹp hơn mới là thành công

TS Phan Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế: "Sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Huế chỉ thực sự thành công khi nó đem lại sự giàu đẹp cho Huế và gắn bó thiết thực với quyền lợi của người dân..."

Tiến sĩ Phan Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế.Tiến sĩ Phan Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế.

Ngày xuân. Quyện trong ly trà nóng và vị thơm cay của những lát mứt gừng vàng rộm cong vênh, câu chuyện giữa tôi và TS Phan Thanh Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, vẫn ấm trong nhiệt huyết của người cán bộ làm công tác bảo tồn. Cứ tin, Huế đang quá thuận để như con diều no gió đưa cả tỉnh, cả di sản (DS) không nơi nào có được bay cao và xa trên nền trời Việt Nam. Hóa ra để được thế, Huế còn nhiều việc ngổn ngang quá.
TS Phan Thanh Hải vào chuyện bằng kết quả của quá trình thực hiện Quyết định 105/QĐ-TTg năm 1996 của Chính phủ (viết tắt: QĐ 105) về quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế, giai đoạn 1996-2010, ra đời 3 năm sau khi Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là DS thế giới. Tổng mức kinh phí dự kiến đầu tư cho dự án này là 720 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính tất cả các nguồn đầu tư cho DS Huế trong thời gian qua mới chỉ đạt khoảng 500 tỷ.
Chính sách vĩ mô là một phần, nhưng khả năng vận dụng để có được nguồn vốn và triển khai được dự án là vấn đề không đơn giản và đây cũng là bài học kinh nghiệm rất lớn. Bấy giờ chúng ta chưa hình dung hết tầm vóc của DS Huế, chưa lường được những tính chất phức tạp của công tác bảo tồn, cũng như vấn đề mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển nên đã đưa ra những mục tiêu quá lớn. Bởi vậy, chúng tôi đã nỗ lực hết sức để xây dựng đề án mới được cụ thể hóa qua Quyết định 818/QĐ-TTg ngày 7/6/2010 (viết tắt: QĐ 818), điều chỉnh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế, giai đoạn 2010-2020, trên cơ sở của tổng kết QĐ 105.
Nghĩa là, những vấn đề về bảo tồn di sản chưa thực hiện được ở QĐ 105 sẽ được QĐ 818 giải quyết thỏa đáng?

- Có thể nói như vậy. Qua giai đoạn mới, không gian của DS sẽ không bị đóng hẹp trong các khu di tích, mà mở rộng không gian vùng đệm và các yếu tố liên quan. Đồng thời, chúng tôi cũng dự kiến và đặt ra những vấn đề mà trước đây chưa thấy được, như dân cư sống trong vùng DS, mức độ đền bù và sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển… Chúng ta cần quan niệm, dân cư sống trong vùng DS, nhất là vùng đệm, khu vực II theo Luật Di sản Văn hóa, không phải bất cứ chỗ nào cũng giải tỏa, di dời. Quan trọng là xem xét, tính toán và bố trí hợp lý để vừa có không gian sống cho người dân vừa bổ trợ cho DS. Nếu không, chúng ta chỉ có thể trùng tu và phục hồi hình thức của DS mà thiếu hẳn hơi thở của cuộc sống, và DS ấy sẽ trở nên khô cứng, kém hấp dẫn và suy giảm giá trị.

Với văn hóa phi vật thể, ngoài Nhã nhạc và các lễ hội cung đình, tài sản của Cố đô còn bao gồm rất nhiều yếu tố khác như ẩm thực, nghề, làng nghề và sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống... Để làm sống lại và phát huy giá trị của các DS trên, trách nhiệm lại không thuộc riêng người làm công tác bảo tồn mà đòi hỏi phải có sự kết hợp đa ngành và của toàn xã hội. Còn cảnh quan môi trường, chúng tôi tiếp tục mạnh dạn đưa vào đề án mới theo hướng mở rộng khu vực cảnh quan để tăng cường khả năng bảo vệ khu DS. Xa hơn là bảo vệ cảnh quan đô thị, nhân tố cực kỳ quan trọng vốn làm nên giá trị vô song của Huế. Chúng tôi nhận thức rằng, việc bảo tồn phải luôn gắn liền với sự phát triển. Vì vậy, bảo tồn tính tổng thể của DS Huế không có nghĩa là làm cho Huế bó cứng trong quá khứ, mà phải làm sao để xong QĐ 818, Huế không chỉ cơ bản giữ được những yếu tố nguyên gốc của quần thể kiến trúc cung đình mà còn giữ được các yếu tố cảnh quan làm nên vẻ đẹp Huế và làm sống lại các giá trị văn hóa phi vật thể liên quan.

Vậy chúng ta có những điều khó nào khi thực hiện QĐ 818?

- Với quyết tâm đưa Thừa Thiên Huế thành Thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh đang ưu tiên cho ngành dịch vụ du lịch, quan tâm đến văn hóa và DS. Tuy nhiên, việc mở rộng và tập trung cho sự phát triển lại tác động rất lớn đến hạ tầng đô thị và thường tạo sự xung đột quyết liệt giữa bảo tồn và phát triển. Nếu không được nhìn nhận một cách đầy đủ và tinh tế thì sự đầu tư cho hạ tầng đô thị, vô hình chung lại cắt đứt các mối quan hệ tổng thể của cảnh quan DS Huế. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực, nguồn vốn đầu tư cho bảo tồn DS và tác động tiêu cực từ việc phát triển du lịch cũng là những vấn đề khiến chúng tôi rất lo lắng. Hiện, chúng tôi vẫn thiếu khá nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp bảo tồn trong giai đoạn mới. Hơn nữa, Huế vẫn có đội ngũ nghệ nhân có tay nghề, có tâm huyết, nhưng cơ chế đãi ngộ nghệ nhân của chúng ta chưa thỏa đáng nên chưa thể thu hút, tập trung họ cho công tác bảo tồn và tạo điều kiện để họ yên tâm truyền nghề cho thế hệ sau. Trong khi, bảo tồn DS lại không thể thiếu bàn tay khéo léo của các nghệ nhân. Sự nghiệp bảo tồn DS Huế không có nghĩa là làm cho Huế đứng lại mà làm sao để Huế phải ngày càng giàu hơn, đẹp hơn. Điều này, đòi hỏi người làm công tác bảo tồn phải có tầm nhìn xa, rộng và khéo léo để đưa ra những chiến lược đúng và thực hiện bằng sách lược phù hợp. 

Về kinh phí, chúng ta đề xuất từ nhiều nguồn để tìm kiếm vốn đầu tư cho di sản Huế. Nhưng để có dự án và vận hành được một cách hiệu quả thì đòi hỏi phải có năng lực thực sự về xây dựng dự án, chạy vốn và quản lý dự án... Mặt khác, Trung tâm cũng cần có cơ chế thoáng hơn nữa để có thể chủ động nguồn vốn đối ứng trong các dự án từ nguồn tài trợ quốc tế hay xã hội hóa. Đồng thời, chúng ta cũng cần cụ thể hóa bằng cơ chế trong việc đảm bảo quyền lợi cho những tổ chức, cá nhân lôi kéo được các dự án cho DS Huế. Đối với tác động của ngành du lịch đối với DS, bên cạnh những mặt tích cực, còn có không ít mặt tiêu cực như, sự tác động trực tiếp vào công trình, rác thải, vấn đề an toàn cho kiến trúc và cổ vật.... Hơn nữa, cách làm du lịch hiện nay chưa cân bằng giữa đầu tư và khai thác. Thậm chí, mới chỉ khai thác cái vốn có mà chưa có sự đầu tư trực tiếp và bền vững cho di sản. Đã đến lúc, ngành du lịch cần có cái bắt tay thực sự với bảo tồn DS để cả hai cùng phát triển và hỗ trợ cho nhau.

Thế hệ đi trước đã làm được những việc để DS Huế 2 lần là DS đầu tiên của Việt Nam trở thành DS thế giới. Nhiệm vụ của chúng ta hôm nay là gì?

- So với hầu hết các DS khác ở Việt Nam, DS Huế vẫn tự hào là được bảo tồn có chất lượng và bài bản hơn cả. Tuy nhiên, nếu chúng ta không cố gắng thay đổi và phát triển, sẽ bị tụt hậu. QĐ 818 thực sự đã mở ra cho sự nghiệp bảo tồn DS Huế bước vào một thời kỳ mới với nhiều thuận lợi, nhưng cũng còn có không ít thử thách mà chúng ta phải vượt qua. Có thể nói, chúng tôi lo nhiều hơn mừng bởi đây cũng là trách nhiệm nặng nề. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tiếp tục nâng tầm vị thế của DS Huế lên như một DS tiêu biểu nhất của Việt Nam. Làm sao để khi nghĩ đến DS của Việt Nam, văn hóa Việt Nam, người ta nghĩ ngay đến Huế. Ấy mới là sự thành công và cũng là trách nhiệm mà thế hệ chúng ta hôm nay phải làm. Mặt khác, chúng ta cũng cần khai thác thế mạnh riêng có và bổ sung cho Huế thêm danh hiệu mới, như: DS thơ văn đồ sộ và duy nhất có trên di tích kiến trúc Huế, hay các lễ hội cung đình độc đáo mà cái cốt lõi tinh thần, ý nghĩa nhân văn vẫn còn nguyên vẹn... Nếu chúng ta tái tạo thành công những lễ hội cung đình và để chúng sống được trong đời sống đương đại, thì DS Huế sẽ là Số 1 với thế mạnh không nơi nào có được.

Để làm được như vậy, tôi nghĩ, không chỉ đòi hỏi nỗ lực của những người làm công tác bảo tồn mà cần có sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành liên quan, và đặc biệt là sự hợp tác, hỗ trợ của cộng đồng xã hội, của từng người dân. Sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị DS Huế chỉ thực sự thành công khi nó đem lại sự giàu đẹp cho Huế và gắn bó thiết thực với quyền lợi của người dân.

Xin cảm ơn Tiến sĩ!

 

Theo TTH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác