Bảo tồn lễ hội cho ai?

Hàng năm có đến hơn 8000 lễ hội, nếu biết khai thác quá khứ thì không chỉ chúng ta làm giàu cho đương đại mà còn góp phần quảng bá văn hoá Việt Nam ra thế giới.

Bảo tồn lễ hội cho ai? - ảnh 1

Khai thác quá khứ cho đương đại!

Thống kê của Cục Văn hoá Cơ sở cho thấy Việt Nam có 8000 lễ hội một năm. Tuy nhiên, theo PGS. TS Nguyễn Chí Bền- Viện trưởng Viện Văn hoá nghệ thuật Việt Nam, con số đó là chưa đầy đủ vì còn nhiều lễ hội mà PGS.TS biết nhưng không có trong thống kê. Theo ông, có thể vì tiêu chí chọn lễ hội chưa thống nhất.

Tuy nhiên, nhiều lễ hội nhưng làm sao để khai thác các giá trị của lịch sử, của quá khứ cho đương đại mới là vấn đề cần bàn.

Cách quảng bá lễ hội là một trong những điều cần học tập các nước. PGS. TS Nguyễn Chí Bền cho hay: Ví dụ như hình ảnh cậu bé đứng tè của Bỉ (từ truyền thuyết cậu bé tè vào dây dẫn cháy để nổ mìn của quân giặc nên đã cứu được cả thành phố khỏi bị diệt vong) đã trở thành hình ảnh quen thuộc trên thế giới. PGS. TS Bền cho hay: “Hình ảnh cậu bé đó đã được bán tại nhiều nước trên thế giới: cái được làm từ đá, cái được làm từ gốm… và người ta biết đến đất nước Bỉ với hình ảnh đó. Trong khi chúng ta, nhiều truyền thuyết có từ vài nghìn năm nhưng không hề được xây dựng thành hình ảnh, không được biết đến. Tảng đá mà cậu bé Gióng ở làng Phù Đổng tè vào, được bao nhiêu người đến tham quan sờ cho nhẵn bóng, nhưng không có sản phẩm nào nổi tiếng thế giới cả”.

Một ví dụ khác từ nước láng giềng Campuchia, ông Chea Vanny đến từ Viện Khoa học xã hội (Viện Hoàng gia Campuchia) cho hay: “Nhờ việc bảo tồn di tích, lễ hội mà trong năm 2009, dù nhiều nước bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu thì Campuchia vẫn không bị ảnh hưởng nặng nề. Ngược lại, số lượng khách du lịch vẫn tăng lên”. Cách làm của Campuchia là tăng cường quảng bá về các di tích lịch sử của đất nước, đăng ký nhiều hồ sơ di sản văn hoá của nhân loại với UNESCO và nhấn mạnh thông điệp “Campuchia, Vương quốc của những kỳ quan”.

nước ta, bên cạnh các lễ hội truyền thống, nhiều lễ hội mới đã được tổ chức và thu hút được lượng khách du lịch khá đông. Có thể kể đến những lễ hội như Festival Pháo hoa Đà Nẵng; Festival Huế; lễ hội trên mây (Sapa)… Bên cạnh đó là hàng loạt các lễ hội theo mùa như: lễ hội biển (tỉnh nào có biển cũng có lễ hội); lễ hội trái cây….Tuy nhiên, con số lễ hội được thế giới biết đến là chưa nhiều.

Trong các kỳ Festival Huế (khoảng 9 ngày qua các năm 2006, 2008) đều thu hút hơn 2 triệu lượt người tham dự. Lượng khách lưu trú năm 2008 là 180 ngàn lượt (gấp 3 năm 2006). Theo công trình nghiên cứu tác động của Festival Huế đối với kinh tế Thừa Thiên- Huế của trường Cao đẳng Nghiệp vụ Du lịch Huế: Tổng mức chi tiêu của khách du lịch trong Festival Huế 2006 là hơn 132 tỉ đồng. Theo cách tính thông thường, du khách đến Huế trong lễ hội năm 2008 tăng gấp ba lần 2006, tất nhiên mức chi tiêu cũng sẽ tăng lên gấp ba, tức khoảng hơn 400 tỉ đồng.

Tương tự, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm nào cũng thu hút vài triệu lượt khách, người dân công đức cho quỹ tu bổ di tích của địa phương rất nhiều.

Bên cạnh việc văn hoá của đất nước, của địa phương được quảng bá thì đó chính là những nguồn lợi hữu hình mà lễ hội đem lại cho các địa phương. Đó chính là cách khai thác quá khứ cho đương đại.

Lễ hội truyền thống đáp ứng nhu cầu gì của người đương đại?

Dư luận vẫn cho rằng chúng ta có quá nhiều lễ hội và nhiều hoạt động lễ hội đang bị biến tướng. Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta không thực sự hiểu đúng, đó là, lễ hội truyền thống của nước ta đã có từ lâu đời, việc biến tướng của nó không phải là lỗi của lịch sử mà là lỗi của chính con người đương đại.

Hầu hết các lễ hội truyền thống của nước ta đều gắn với tục thờ thánh, thần, thành hoàng của địa phương, của nghề…Ngoài phần lễ thể hiện lòng biết ơn với những người có công, phần hội thường gắn với ước vọng bình an, sinh sôi nảy nở (cho mùa màng và con người).

thế, chỉ khi nào ước vọng cầu an của con người không còn thì mới không còn lễ hội. ThS Nguyễn Hữu Thông- Phân Viện Văn hoá Nghệ thuật VN tại Huế chia sẻ: “Sức sống của lễ hội xuất phát từ nhu cầu tự thân của mỗi cộng đồng. Khi nhu cầu ấy vẫn tồn tại thì lễ hội vẫn còn”.

Qua dòng chảy thời gian, các lễ hội truyền thống vẫn còn nguyên giá trị về truyền thống uống nước nhớ nguồn, ngợi ca công đức các bậc có công với dân, với nước và ước vọng bình yên. Tuy nhiên, làm thế nào để lễ hội truyền thống không biến tướng mới là vấn đề cần bàn cãi.

Các biến tướng của lễ hội mà dư luận nêu lên đều do chính con người đương đại tạo nên.

PGS. TS Nguyễn Chí Bền cho rằng, nhiều người còn quá nặng nề trong cách nhìn nhận lễ hội. Cần hiểu thương mại hoá lễ hội ở những khâu nào. Có những vấn đề cần thương mại hoá mà chúng ta làm không tốt. Đó là việc in những tờ rơi, sách về lịch sử địa phương, những vật lưu niệm đặc trưng của vùng… để bán, để phát tặng du khách khi họ có đóng góp, công đức cho lễ hội… Nếu làm được điều này, thì chúng ta vừa quảng bá được văn hoá địa phương, vừa có thu… là điều rất tốt. Ngược lại, các dịch vụ gia tăng như: Đưa đò qua suối Yến, đội lễ thuê, giữ xe… phải kiểm soát chặt chẽ để không chặt chém du khách….

Ông cũng cho hay, nếu địa phương nào làm tốt việc quản lý các giá trị gia tăng, thì lễ hội sẽ trở thành một thương hiệu, một điểm hút du khách mỗi mùa lễ hội diễn ra.

Quan điểm của PGS. TS Nguyễn Chí Bền khá tương đồng với ông Philippe Bouler, một đạo diễn chuyên nghiệp cho trên 50 kỳ Festival lớn tại các nước trên thế giới. Ông Philippe Bouler đã từng chia sẻ với chúng tôi: “Để đạt được festival lý tưởng cần có ba tiêu chí: Địa điểm tuyệt vời, khán giả hạnh phúc và nghệ sĩ hài lòng”.

Lễ hội ngày nay, làm sao để người tham dự thấy hạnh phúc là đã thành công!



Theo ĐV

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác