Bảo tồn vốn di sản âm nhạc cổ truyền dân tộc

Đã hơn nửa thế kỷ đất nước ta thực hiện công cuộc bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật truyền thống theo phương châm khoa học hóa, hiện đại hóa để hội nhập với thời đại. Thế nhưng gần đây, sau khi các di sản âm nhạc cổ truyền lần lượt được vinh danh trước thế giới, nhiều người mới nhìn lại toàn cảnh bức tranh âm nhạc dân tộc và giật mình thấy rằng chúng ta hình như mới chỉ bảo tồn được phần xác của âm nhạc cổ truyền, còn phần hồn tinh túy thì đã bị mai một đi rất nhiều...

Bảo tồn vốn di sản âm nhạc cổ truyền dân tộc - ảnh 1

Người nắm phần hồn âm nhạc dân tộc

Theo báo cáo của Viện Âm nhạc Việt Nam, trải qua hơn nửa thế kỷ sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn, đến nay Viện đã thu được một kho tư liệu đồ sộ với đầy đủ những hình thức âm nhạc cổ truyền thuộc các không gian văn hóa, dân tộc khác nhau bao gồm 17.628 bài dân ca, 7.530 bài dân nhạc cùng 75 vở diễn sân khấu và diễn xướng dân gian. Tuy nhiên, với bản chất là diễn xướng, là sự ngẫu hứng ứng tác trên các lòng bản nên âm nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung không tồn tại dưới dạng văn bản chi tiết kiểu như bản nhạc phương Tây, các tác phẩm luôn tồn tại với nhiều dị bản khác nhau. Chính những dị bản được hình thành trong môi trường diễn xướng dân gian đó đã làm nên nét đặc sắc, phần hồn cho âm nhạc cổ truyền dân tộc. Vì vậy mọi hình thức bảo tồn, lưu trữ bằng các phương tiện nghe nhìn, các công nghệ hiện đại bao giờ cũng chỉ bảo lưu được một phần những giá trị vốn có của âm nhạc dân tộc. Phần lớn còn lại tồn tại cùng người nghệ sỹ - những người mà ta quen gọi là nghệ nhân cổ nhạc.

Do tính đặc thù như vậy nên mặc nhiên, trong mỗi nghệ nhân cổ nhạc Việt Nam luôn tồn tại "chức năng kép". Họ vừa là người biểu diễn vừa là người sáng tạo tại chỗ. Họ vừa sở hữu một vốn liếng âm nhạc giàu có và quý giá của cả dân tộc đồng thời cũng là những người nắm giữ trong tay kho tri thức đồ sộ về sáng tác âm nhạc cổ truyền và chế tác các nhạc cụ dân gian. Chính điều đó đã khu biệt một nghệ nhân với một diễn viên, nhạc công hay nhạc sỹ thuần túy. Với lối tư duy nhận thức tác phẩm theo kiểu bản năng rồi ngẫu hứng ứng tác đó, “xương thịt” và “linh hồn” của mỗi tác phẩm dường như phải ngấm vào trong máu, để trở thành phản xạ tự nhiên trong mỗi nghệ nhân. Nói cách khác, toàn bộ các giá trị nghệ thuật tinh tế của tác phẩm luôn tiềm ẩn trong khối óc, con tim nghệ nhân. Chỉ đến khi biểu diễn, những giá trị đó mới hiện hình qua đôi bàn tay hay giọng hát đầy sức biến hóa của họ. Bởi vậy, có thể nói sự tồn vong của các tác phẩm âm nhạc cổ truyền Việt Nam gắn bó chặt chẽ với sự sống còn của nghệ nhân cổ nhạc. Các nghệ nhân cổ nhạc chính là những di sản sống vô cùng quý giá, cần được bảo vệ và khai thác một khi chúng ta muốn bảo tồn và phát huy vốn di sản âm nhạc cổ truyền của dân tộc.

Thái độ với những di sản sống

Bảo tồn vốn di sản âm nhạc cổ truyền dân tộc - ảnh 2
Theo nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền thuộc Ban nghiên cứu Di sản văn hóa phi vật thể, Viện Văn hóa, Thông tin, hiện nay, những nghệ nhân cổ nhạc “xịn” của Việt Nam chỉ còn đếm trên đầu ngón tay và đang tiếp tục hao hụt dần bởi tuổi già sức yếu. Trong rất nhiều trường hợp, các “bảo tàng sống” này đã mang vào lòng đất lạnh những tinh tuý của âm nhạc dân tộc mà không kịp trao truyền cho lớp kế cận. Hàng chục năm qua, chúng ta luôn cố gắng hô hào mọi người bảo vệ âm nhạc cổ truyền dân tộc. Song sẽ là một câu hỏi làm giật mình các ông bố bà mẹ khi vấn đề đặt ra là họ có muốn con cái mình theo học cổ nhạc Việt Nam? Chắc sẽ có rất ít câu trả lời là “có” khi mà đời sống kinh tế của chính những người thầy - nghệ nhân cũng như của những người gắn bó với những thể loại âm nhạc đó là… vô cùng hiu hắt! Theo học âm nhạc cổ truyền Việt Nam - con cái họ sẽ được gì? Sẽ trở thành ai? Có bằng cấp không? Học xong sẽ kiếm sống trong môi trường nào? Tương lai sẽ ra sao?... Lẽ tất yếu, sự lựa chọn của xã hội phần lớn phụ thuộc vào hiện trạng đời sống của nghệ nhân cổ nhạc. Sự suy thoái của đời sống âm nhạc cổ truyền nói chung là thực trạng đã báo động trong hàng chục năm qua! Hơn ai hết, những nhà nghiên cứu - người trực tiếp biết rõ nhất về chuyện này cũng nản lòng. Phải làm gì đây khi các nghệ nhân bậc thầy vẫn đang sống lay lắt, phần lớn trong số họ đã ở cuối buổi xế chiều. Phải làm chi đây khi những di sản sống chưa nhận được một thái độ đối xử hợp lý, chưa có một chế độ đãi ngộ thỏa đáng. Đó là nỗi trăn trở của những người làm công tác bảo tồn di sản.

Nói chung, phần lớn quá trình truyền dạy cổ nhạc trong hàng chục năm qua thường diễn ra manh mún, tự phát. Học trò thì ít, không phải ai cũng sẵn lòng theo nghề. Và không phải ai cũng muốn học hết vốn liếng của các cụ. Phần vì không đủ tài lực, thời gian; phần thì chỉ cần một vốn liếng tối thiểu để “xuất đầu lộ diện” là xong! Phần lớn các cụ dạy bằng tâm nguyện với tổ nghề, “có người học là tốt rồi”. Song có những cụ thì cám cảnh, giấu nghề, học trò có lẽo đẽo theo sau đến mấy cũng không nhận lời truyền dạy!

Trên cái nhìn tổng thể, nhiều giá trị lớn nhỏ của cả một kho tàng đã bị mai một, thậm chí ra đi vĩnh viễn không trở lại. Người có tri thức, có tâm hồn Việt không khỏi giật mình đau sót khi mà tứ chiếng chèo Đông - Đoài - Nam - Bắc với 4 phong cách riêng, hàng trăm vở tuồng cổ, những giáo phường ca trù, những phường xẩm, những trung tâm hát văn với những cuộc thi lớn… giờ đây chỉ còn lại những dư âm của một thời vang bóng! Trên những phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong thị trường băng đĩa, cổ nhạc Việt Nam vẫn là “của hiếm” - cái vốn bị coi là không ai nghe, chẳng ai mua. Nhưng nếu có muốn nghe cũng chẳng biết tìm đâu ra. Không cần nói nhiều, ai cũng hiểu đó là một bức tranh quá ảm đạm. Trong khi ở vế bên kia - cái gọi là “hiện đại, phát triển”, sự đối trọng đã vượt tầm từ bao thế hệ. Người ta có thể đầu tư bạc tỷ cho nhiều loại hình âm nhạc gọi là “mới”, nuôi dưỡng nhiều mô hình nghệ thuật phát triển… nhưng lại chẳng đầu tư bao nhiêu cho kho tàng di sản cổ nhạc của cha ông tự ngàn xưa! Ai cũng hô hào, ai cũng công nhận là phải làm, nhưng tất cả dường như chỉ có thế! Thường thì người ta dễ “an tâm” khi nhìn thấy sự tồn tại của các nhà hát chèo, tuồng, cải lương hay các đoàn quan họ… và tưởng rằng thế là đủ...

Coi nghệ nhân cổ nhạc là những di sản sống thì chúng ta cần phải có thái độ trân trọng và giữ gìn vốn di sản ấy. Sự ẩn dật và mai một, đứt đoạn và thiếu hụt của âm nhạc cổ truyền cũng chỉ bởi vì chúng ta chưa có một chế độ đãi ngộ, quy chế bảo tồn nào đối với các nghệ nhân. Đã đến lúc Nhà nước cần hoạch định một chính sách riêng cho âm nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung, giới nghệ nhân cổ nhạc nói riêng. Ngoài việc tôn vinh các nghệ nhân, điều chúng ta có thể làm ngay trước khi quá muộn là phải có cách ứng xử cụ thể đối với từng nghệ nhân hay nhóm nghệ nhân nhằm khai thác, bảo tồn, phát huy hiệu quả vốn nghệ thuật âm nhạc cổ truyền mà họ đang sở hữu trong đó phải ưu tiên trước nhất việc đầu tư, khuyến khích các “thầy nghệ nhân” nhanh chóng tạo ra các “trò nghệ nhân”, có nghĩa là tạo ra một thế hệ nghệ nhân kế cận! Có như vậy mới mong bảo tồn thành công di sản cổ nhạc Việt Nam.

 

 

Theo NĐB

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác