Biện pháp quản lý XNK Văn hóa phẩm và vấn đế nhập khẩu phim

(Cinet) – Cùng với nhiều vấn đề nóng đang được quan tâm về thực trạng tiêu chuẩn, định chuẩn trong quản lý văn hóa. Vấn đề xuất nhập khẩu văn hóa phẩm và vấn đề nhập khẩu phim cũng đã và đang là một đề tài được quan tâm chú ý, tại cuộc Hội thảo này.

Ông Lưu Nguyên - Phòng Quản lý XNK văn hóa phẩm, Bộ VHTTDLÔng Lưu Nguyên - Phòng Quản lý XNK văn hóa phẩm, Bộ VHTTDL

Trên thực tế cũng đã có nhiều quy định của Nhà nước được ban hành nhằm quản lý các sản phẩm văn hóa phẩm cũng như quy định về nhập phim tại Việt Nam. Cụ thể: Theo quy định của Điều 68 Chương IV trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 “Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa” trong đó theo điểm l, Điều 32 “Trách nhiệm của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá” một trong những trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng đối với các sản phẩm, hàng hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là quản lý chất lượng của loại hình Ấn phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật...

Hệ thống quy định pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu văn hóa phẩm đã ban hành bao gồm: Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về Quản lý xuất nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh, Thông tư số 48/2006/TT-BVHTT... và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Theo Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 quy định trong lĩnh vực văn hóa, văn hóa phẩm bao gồm:

a) Các bản ghi âm, ghi hình; các loại phim, băng từ, đĩa mềm, đĩa cứng, đĩa quang đã ghi nội dung; các sản phẩm công nghệ nghe nhìn khác đã ghi thông tin ở dạng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh;

b) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tranh, nhiếp ảnh;

c) Di sản văn hóa vật thể và các sản phẩm liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể.

Các biện pháp hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu văn hóa phẩm là việc xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý các hoạt động này. Các quy định về quản lý này là một hình thức quản lý chất lượng đối với văn hóa phẩm xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, việc quản lý chất lượng hàng hóa hiện nay là việc kiểm soát nội dung sản phẩm mà không phải là các quy chuẩn vật lý của sản phẩm.

Với cơ sở hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, hiện đại, phù hợp thực tiễn sẽ trực tiếp góp phần tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn nữa cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, góp phần nâng cao năng lực quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ quan hỗ trợ thực thi hoạt động quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm. Đặc biệt, các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu văn hóa phẩm của Việt Nam ra các nước, đồng thời góp phần bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rộng, tăng cường giao lưu văn hóa. Giúp cho các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, giúp cho công chúng hưởng thụ các giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần.

Trong thực tế, các sản phẩm văn hóa mang tính hàng hóa được sản xuất, xuất nhập khẩu và tiêu dùng ở nước ta chủ yếu là sản phẩm băng đĩa hình, ca nhạc, phim hoặc ấn phẩm khác. Trên thực tế, các sản phẩm băng đĩa hình, ca nhạc nhập khẩu theo con đường chính ngạch về Việt Nam cũng không nhiều, trong khi do việc phổ cập internet dẫn đến việc sử dụng, thưởng thức các sản phẩm như phim ảnh, ca nhạc qua mạng Interrnet đã ngày càng trở nên phổ biến, mặc dù việc này, trong nhiều trường hợp là vi phạm luật về bản quyền.

Biện pháp quản lý XNK Văn hóa phẩm và vấn đế nhập khẩu phim - ảnh 2
Biện pháp quản lý XNK Văn hóa phẩm và vấn đế nhập khẩu phim - ảnh 3
Các sản phẩm văn hóa phẩm trong nước chủ yếu vẫn được sản xuất tại các cơ sở nhỏ lẻ, chưa kể đến nhiều cơ sở sản xuất trái phép không có giấy phép sản xuất từ đó dẫn đến những sản phẩm không đạt chất lượng

Các sản phẩm băng đĩa hình, ca nhạc, phim ảnh sản xuất trong nước được thực hiện thông qua mạng lưới các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, quy mô tiêu thụ không lớn, chủ yếu tại các thành phố lớn. Chất lượng các sản phẩm này thường không ổn định do thiếu tiêu chuẩn và các phương tiện kiểm tra, thử nghiệm cần thiết, trong khi đó việc kiểm soát chất lượng sản phẩm của các cơ quan quản lý chức năng còn hạn chế. Bên cạnh đó vấn đề bản quyền cũng là một yếu tố tác động đến tính pháp lý của các băng đĩa hình, ca nhạc được sản xuất và lưu thông trên thị trường Việt Nam. Số lượng sản phẩm băng đĩa hình của Việt Nam xuất khẩu theo đường chính ngạch hiện nay còn rất khiêm tốn, chủ yếu cho thị trường có người Việt sinh sống (nếu có).

Các ấn phẩm như sách báo, tạp chí văn học nghệ thuật được sản xuất trong nước thông qua các nhà xuất bản. Các ấn phẩm này ngày càng đa dạng và có nhiều tiến bộ về chất lượng in ấn, trình bầy, màu sắc và có nhiều sự cạnh tranh giữa các nhà xuất bản trên thị trường. Trong việc sản xuất các ấn phẩm cũng nổi lên hai vấn đề chính là chất lượng nội dung ấn phẩm và vấn đề bản quyền tác giả.

Biện pháp quản lý XNK Văn hóa phẩm và vấn đế nhập khẩu phim - ảnh 4
Việc thiếu quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể là một trong những nguyên nhân khiến các sản phẩm văn hóa phẩm, phim ảnh của Việt Nam gặp khó khăn trong việc xuất khẩu..

Hiện nay, nhu cầu nhập  khẩu văn hóa phẩm đang ngày càng gia tăng, đòi hỏi chúng ta phải có sự quản lý nhập khẩu chặt chẽ để không gây ảnh hưởng xấu tới cán cân thanh toán quốc tế, bảo vệ và phát triển kinh tế trong nước một cách ổn định, vững chắc. Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý đối với việc quản lý xuất nhập khẩu văn hóa phẩm, thì một trong những biện pháp để quản lý nhập khẩu văn hóa phẩm là sử dụng hệ  thống các chính sách dưới hình thức hàng rào kỹ thuật.

Mặc dù các rào cản kỹ thuật trong thương mại được sử dụng trong hầu hết các ngành hàng khác như công nghiệp, nông nghiệp... nhưng đối với các sản phẩm văn hóa thì gần như vắng bóng, mặc dù việc xây dựng các quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn hàng hóa đối với sản phẩm văn hóa là hết sức cần thiết.

Các biện pháp về mặt kỹ thuật mà Việt Nam đang áp dụng thường không tạo ra những hàng rào đáng kể đối với văn hóa phẩm hoặc hàng hóa, dịch vụ, công nghệ nhập khẩu; những biện pháp mà Việt Nam đang áp dụng hiện nay là hài hòa với những nguyên tắc chủ yếu của WTO, SEAN, APEC, không cản trở tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, qua các kênh thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng, một điều dễ nhận thấy dường như nhiều nhà sản xuất, xuất nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa văn hóa vẫn chưa có nhận thức chung một cách đầy đủ về khái niệm hàng rào kỹ thuật trong thương mại và thực thi các nguyên tắc về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp trong các hoạt động này. Việc này thể hiện qua việc sản xuất xuất nhập khẩu sản phẩm văn hóa chưa được dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn tương ứng, từ đó chưa thể kiểm soát tốt về mặt chất lượng sản phẩm tạo kẽ hở cho việc cạnh tranh không lành mạnh, thiếu tính công khai minh bạch trong xuất nhập khẩu.

Còn về quy định quản lý nhập khẩu phim vào Việt nam dù đã được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật. Khi Việt Nam tham gia WTO đã có cam kết sẽ tạo môi tr­ường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập, khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu t­ư vào điện ảnh tại Việt Nam, trong đó chú ý đến việc sửa đổi, bổ sung các điều, khoản quy định hạn ngạch nhập khẩu phim; việc sửa đổi này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc hội nhập quốc tế với các chuẩn mực chung, phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, đồng thời tạo nên sự phong phú, đa dạng về chủng loại phim và tăng số l­ượng phim nhập khẩu. Tuy nhiên việc bỏ hạn ngạch nhập khẩu phim vấp phải bài toán quản lý và thẩm định phim. Gây khó khăn trong việc quản lý, phổ biến phim trên truyền hình, nhất là đối với việc kiểm duyệt nội dung phim cũng như vấn đề bản quyền của nhà cung cấp. Hơn nữa, việc quản lý nội dung phim trên truyền hình còn có nhiều bất cập, chưa hiệu quả. Đặc biệt là phim được tiếp sóng trực tiếp từ các kênh truyền hình hình nước ngoài như HBO, Cinemax… còn nhiều vấn đề cần phải xem xét. Đây là một dạng nhập khẩu phim trực tiếp thông các thiết bị chuyên dụng, giống như việc nhập khẩu phim qua đường internet. Việc nhập khẩu ngày càng nhiều phim truyện, phim truyền hình nước ngoài khiến sản xuất phim trong nước khó có thể cạnh tranh là một thực tế. Dù cạnh tranh là động lực cho phát triển nhưng xuất phát điểm của ngành điện ảnh Việt Nam quá thấp, chính vì thế ngành điện ảnh Việt Nam cần có nhiều sự hỗ trợ của nhà nước về phát hành, phổ biến phim ra thị trường nước ngoài tạo cơ hội cho các đơn vị trong nước dần đi lên.

Cinet tông thuật ( Trích bài phát biểu của Ông Lưu Nguyên - Phòng QL XNK VH Bộ VHTTDL)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác