Ca trù cất cánh

Sau bao năm vắng bóng, gần đây tại các lễ hội truyền thống; trên sân khấu các kỳ hội diễn, liên hoan nghệ thuật và các chương trình biểu diễn văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn ở Thái Bình đã xuất hiện trở lại các tiết mục ca trù đặc sắc, làm nên điểm nhấn hấp dẫn, ấn tượng. Đó chính là kết quả bước đầu của việc triển khai các hoạt động nhằm khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật ca trù – Di sản văn hoá phi vật thể của thế giới được UNESCO công nhận - trong đời sống cộng đồng.

Ca trù cất cánh - ảnh 1

Nghệ thuật độc đáo...

Là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt - ca trù có nhiều tên gọi khác nhau như hát ả đào, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát cô đầu, hát nhà tơ, hát nhà trò và hát ca công... Lời lẽ, ca từ của ca trù mang tính uyên bác, ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ, mang nhiều cảm xúc, trầm ngâm, sâu lắng. Ca trù có đủ các thể loại từ trữ tình lãng mạn đến sử thi anh hùng, triết lý giáo huấn… đã thu hút sự tham gia sáng tác, thể nghiệm tài năng của nhiều văn sỹ và trí thức. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, đến giữa năm 2009 có 63 Câu lạc bộ với khoảng 769 đào nương, kép hát thuộc 14 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh) có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù. Tuy nhiên, số nghệ nhân có thể hát được từ 10 làn điệu trở lên là rất hiếm. Tại Viện Âm nhạc hiện lưu trữ được 7 điệu múa; 42 bài bản ca trù; 26 văn bản Hán Nôn và khoảng 25 cuốn sách về ca trù.

Ca trù được công nhận là đã có đóng góp lớn vào văn hóa Việt Nam. Từ ca trù, một thể thơ độc đáo ra đời và trở nên có vị trí sáng giá trong dòng văn học chữ Nôm của dân tộc là thể thơ hát nói, được ưa chuộng qua nhiều thế kỷ. Ngoài ra, đàn Đáy và Phách đã trở thành những nhạc khí đặc trưng của ca trù, góp phần đưa ca trù trở nên một thể loại thanh nhạc kinh điển của Việt Nam. Chính vì vậy, sau bốn năm đề nghị, chờ đợi, ngày 1.10.2009 tại Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất, ca trù của Việt Nam đã được ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể.

Ca trù ở Thái Bình - một thời nổi tiếng

Cùng với nghệ thuật hát chèo, ca trù đã xuất hiện ở Thái Bình từ lâu đời với nhiều tên tuổi ca phường, ca nương, kép chầu nổi tiếng đàn hay hát giỏi. Theo báo cáo kết quả kiểm kê di sản nghệ thuật ca trù ở Thái Bình thì các di tích đi liền với nghệ thuật ca trù tiêu biểu còn hiện hữu là đền Đồng Xâm thuộc thôn Thượng Gia, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương. Tại đền còn lưu giữ một cuốn sách cổ ghi chép thần tích và các bài văn tế có niên đại cuối triều Nguyễn. Ngoài các tư liệu mang tính tạp ghi, đáng quan tâm hơn cả là sách còn lưu chép một bài ca trù tế tổ nghề ca công và tám bài ca trù tế Thánh. Lưu truyền, Hội đền Đồng Xâm xưa thường được tổ chức khá quy mô, với nhiều trò diễn dân gian thu hút du khách về trẩy hội. Các giáo phường trong tỉnh dù đi lưu diễn khắp cả nước, nhưng đến ngày hội đền đều cử những ca nương đàn hay, hát giỏi nhất về hát chầu. Ngoài ra, đền Bà thuộc thôn Thượng Hoà, xã Hồng Thái, Kiến Xương thờ bà Trình Thị - vợ vua Triệu Đà mà tương truyền là thờ tổ nghề ca trù; đền Miếu làng Dương Liễu xã Bình Định thờ thành hoàng làng, hàng năm mỗi dịp hội làng vẫn duy trì tục thi hát ca trù...

Qua khảo sát, đến năm 1954, Thái Bình có khoảng 50 đào nương, kép đàn chuyên hành nghề ca trù ở phố An Tập (nay là thành phố Thái Bình). Một số nghệ nhân xuất thân từ các làng có truyền thống ca trù như Đồng Xâm, Dương Liễu (Kiến Xương); Tiểu Hoàng và một số làng khác thuộc huyện Tiền Hải thường theo các giáo phường ở Hà Nội, Hà Đông, Hải Dương đi khắp nơi hành nghề kiếm sống, đến ngày hội làng về tham gia hát ca trù. Sau năm 1954, do hoàn cảnh khách quan, hầu hết các nghệ nhân ca trù đã bỏ nghề, nhiều người qua đời, số ít còn lại theo con cháu sinh sống ở tỉnh ngoài. Hiện, Thái Bình còn duy nhất một nghệ nhân ca trù là đào nương Bùi Thị Nhài, tên thường gọi là bà Thế, sinh năm 1925, tại làng Dương Liễu, xã Bình Định. Tuổi ấu thơ bà đã từng có 5 năm theo các giáo phường, lớn lên hành nghề ca trù khoảng 30 năm và nhiều năm hành nghề độc lập. Nay tuy tuổi cao sức yếu song bà còn nhớ được nhiều làn điệu ca trù.

Bảo tồn và phát huy

Giám đốc Nhà Văn hoá Trung tâm tỉnh Thái Bình Nguyễn Thị Hồng Vân cho biết: thực hiện sự chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ 2007 đến 2010, Nhà Văn hoá Trung tâm đã nỗ lực vận động, tuyên truyền và phối hợp với các địa phương có truyền thống hát ca trù, mở được bốn lớp đào tạo đào nương, kép đàn ở Bình Định, Đồng Xâm, Nhà văn hoá Tiền Hải và Nhà văn hoá thành phố. Trực tiếp truyền dạy là những nghệ nhân nổi tiếng như danh cầm Nguyễn Phúc Đẹ, danh ca Phạm Thị Chúc, Nguyễn Thị Mai và một số giáo viên Nhạc viện Hà Nội và nghệ nhân nổi tiếng khác của các Câu lạc bộ ca trù Hà thành. Mỗi lớp học trong thời gian từ 2 - 3 tháng, tổng số học viên khoảng 200 người. Ngoài được truyền dạy những làn điệu ca trù cổ như: Hồng hồng tuyết tuyết, xướng ca đệ nhất trù văn, đệ nhị trù văn, năm khổ phách, hát chúc hỗ, ca công tế tổ sư văn, làn điệu bắc phản v.v…, học viên còn được học thêm một số bài ca trù mới nội dung ca ngợi Bác Hồ, nghìn năm Thăng Long... Đáp lại sự quan tâm động viên của Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tâm huyết của Ban tổ chức lớp và cán bộ địa phương, ở hầu hết các lớp học, học viên đều rất say mê nhiệt tình, hăng hái tiếp nhận kiến thức và được các nghệ nhân trực tiếp truyền dạy đánh giá cao về chất lượng trong buổi báo cáo tổng kết các lớp học. 

Thái Bình là một trong 16 tỉnh của cả nước có nghệ thuật ca trù và cuối năm 2010 vừa qua, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tặng Bằng khen cho Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các câu lạc bộ ca trù thuộc tỉnh Thái Bình “Đã có thành tích đóng góp xây dựng hồ sơ trình UNESCO ghi danh hát ca trù vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp”. Việc khôi phục, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể thế giới tại Thái Bình đã bước đầu đạt kết quả đáng phấn khởi. Song để ca trù thực sự được bảo tồn và phát huy giá trị phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, du lịch ở địa phương nói riêng, Việt Nam và thế giới nói chung rất cần có sự quan tâm vào cuộc, chung tay góp sức của các bộ ngành, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan cùng toàn thể cộng đồng.

 

Theo ĐBND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác