Công nghiệp văn hóa - Động lực thúc đẩy sáng tạo và phát huy bản sắc dân tộc

(Cinet)- Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các ngành công nghiệp văn hóa chính là tài sản chiến lược trong chính sách ngoại giao, hợp tác quốc tế. Đặc biệt, đó còn là nền tảng khẳng định nét đặc trưng của mỗi quốc gia và là động lực thúc đẩy sáng tạo, phát huy bản sắc dân tộc.
 
Công nghiệp văn hóa - Động lực thúc đẩy sáng tạo và phát huy bản sắc dân tộc - ảnh 1
Ảnh minh họa. Nguồn: ĐBND

Khái niệm “Các ngành công nghiệp văn hoá” (Cultural Industries) được UNESCO và nhiều nước như: Phần Lan, Tây Ban Nha, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc... sử dụng rộng rãi. Theo quan điểm của UNESCO, thuật ngữ “Các ngành công nghiệp văn hoá” được áp dụng cho “các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hoá. Các nội dung này thường được bảo vệ bởi luật bản quyền và thể hiện dưới dạng sản phẩm hay dịch vụ”.

Công nghiệp văn hóa được xác định bao gồm các lĩnh vực: Truyền thông, thiết kế, thời trang, sản phẩm tương tác, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, phim ảnh, nghệ thuật thị giác. Công nghiệp văn hóa có thể sản sinh ra các sản phẩm văn hóa, đem lại lợi ích kinh tế.

Thực tế, ngành công nghiệp văn hóa từ lâu đã trở thành trụ cột kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, đem lại doanh thu hàng triệu USD mỗi năm. Điển hình như các nước: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh… Hầu như ai cũng biết đến kinh đô điện ảnh Hollywood của Mỹ, ngành công nghiệp điện ảnh - một trong những lĩnh vực được liệt kê trong danh sách các ngành công nghiệp văn hóa mỗi năm đem lại cho ngân khố Mỹ hàng tỉ đô la lợi nhuận. Trong khi đó, ở Nhật Bản, doanh thu từ việc sản xuất truyện tranh và trò chơi điện tử cũng đem lại cho quốc gia này nhiều tỉ đô la mỗi năm. Chỉ tính riêng doanh thu từ bộ truyện tranh nổi tiếng Doraemon trong đó bao gồm việc xuất bản truyện, sản xuất các ấn bản sản phẩm lưu niệm…đã lên đến 2 tỉ đô. Mà Doraemon chỉ là một trong số hàng chục bộ truyện tranh của Nhật Bản nổi tiếng khắp thế giới.
 
Công nghiệp văn hóa - Động lực thúc đẩy sáng tạo và phát huy bản sắc dân tộc - ảnh 2
Ảnh minh họa. Nguồn: ĐCSVN

Tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong hệ thống kinh tế của nhiều nước đã được nâng lên với tốc độ nhanh chóng. Theo UNESCO, giá trị các sản phẩm của công nghiệp văn hóa được thực hiện trong thương mại toàn cầu đã tăng gấp 3 lần trong khoảng thời gian từ năm 1980 - 1991, từ 67 tỉ USD lên 200 tỉ USD. Lợi nhuận khổng lồ của công nghiệp văn hóa đã khiến cho rất nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới đua nhau tham gia. Một trong những mũi nhọn xuất khẩu của Mỹ chính là ngành vui chơi, giải trí. Chỉ tính riêng doanh thu của kinh đô điện ảnh Holywood, năm 1997 đã lên tới 30 tỉ USD. Sự xuất khẩu của những sản phẩm văn hóa ngày càng phong phú ra thế giới tác động mạnh đến văn hóa dân tộc của các nước đang phát triển.

Còn tại Việt Nam, thuật ngữ công nghiệp văn hóa vẫn mới mẻ và chưa có được một sự đầu tư bài bản, đúng hướng, chưa xây dựng được khái niệm cụ thể, rõ ràng. Khi nói đến công nghiệp văn hóa, mọi người hay nghĩ một cách hẹp, đó chỉ là văn hóa truyền thống, là vấn đề bản sắc...
 
Công nghiệp văn hóa - Động lực thúc đẩy sáng tạo và phát huy bản sắc dân tộc - ảnh 3
Ảnh minh họa. Nguồn: doanhnhansaigon.vn

Chúng ta đều biết, văn hóa là bộ phận quan trọng hợp thành sức mạnh tổng thể quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đang trở thành một yêu cầu cấp thiết bởi tự thân nó tạo ra tác động lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác. Không những thế, các ngành công nghiệp văn hóa còn có tác động rất lớn đối với kinh tế và xã hội của một đất nước, minh chứng qua việc tăng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, đáp ứng nhu cầu về hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của người dân…

Hơn nữa, xu thế hội nhập và phát triển tạo nên nhiều luồng tư tưởng văn hóa khác nhau, có cả tiêu cực và tích cực, thậm chí là sự xâm thực của những hiện tượng phản văn hóa mà chúng ta đã thấy trong thời gian qua. Vì vậy muốn giữ vững tính độc lập của văn hóa truyền thống, chống lại ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai thì phải sử dụng và phát huy tối đa tài nguyên văn hóa của mình để nâng cao sức cạnh tranh và tỷ lệ thị phần quốc nội của các ngành công nghiệp văn hóa. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, xây dựng công nghiệp văn hóa chính là tiền đề quan trọng để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, qua đó góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh văn hóa, thúc đẩy sự tiến bộ và tôn vinh văn hóa dân tộc.

Từ năm 2009, Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020” , trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ tập trung xây dựng cơ chế, chính sách và môi trường kinh doanh để phát triển ngành công nghiệp văn hóa, xác định đến năm 2015, một trong những đề án lớn được đề được đề cập đến là xây dựng và tổ chức thực hiện đề án phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam.
 
Công nghiệp văn hóa - Động lực thúc đẩy sáng tạo và phát huy bản sắc dân tộc - ảnh 4
Ảnh minh họa. Nguồn: TTVH

Những năm gần đây, vấn đề xoay quanh công nghiệp văn hóa và định hướng phát triển ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đã trở thành đề tài “nóng”, thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học. Nhiều hội thảo trong nước và quốc tế được tổ chức như: Hội thảo “Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam - Cục Hợp tác quốc tế - Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm phối hợp tổ chức tại Hà Nội; Hội thảo “Công nghiệp văn hóa: Vai trò đối với nền kinh tế và khung chính sách phù hợp phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam” do Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức; Hội thảo“Về phát triển ngành công nghiệp sáng tạo” do Cục Bản quyền tác giả Việt Nam và Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) phối hợp tổ chức; Hội thảo “Khung kế hoạch chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch và Hội đồng Anh tổ chức... Qua đó, một số vấn đề lý luận chung về công nghiệp văn hóa đã được bàn luận và trao đổi, góp phần làm sáng tỏ hơn khái niệm công nghiệp văn hóa - một lĩnh vực đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới nhưng hiện vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam.
 
Công nghiệp văn hóa - Động lực thúc đẩy sáng tạo và phát huy bản sắc dân tộc - ảnh 5
Ảnh minh họa. Nguồn: baobacninh.com.vn

Đặc biệt, tháng 9/2016, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với quan điểm: Các ngành công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên sự sáng tạo, khoa học công nghệ và bản quyền trí tuệ; khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn hóa; Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phát huy được lợi thế của Việt Nam, phù hợp với các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường; được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các ngành, các khâu sáng tạo, sản xuất, phân phối, phổ biến và tiêu dùng; Phát triển công nghiệp văn hóa gắn liền với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập và hợp tác quốc tế.
 
Công nghiệp văn hóa - Động lực thúc đẩy sáng tạo và phát huy bản sắc dân tộc - ảnh 6
Ảnh minh họa. Nguồn: trangandanhthang.vn

Chiến lược nhằm mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao gồm: Quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa trở thành những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng của Việt Nam.

Văn hóa của mỗi quốc gia được phản ánh trong các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Khi ra khỏi biên giới lãnh thổ, các sản phẩm đó sẽ trở thành các “đại sứ văn hóa” dân tộc. Vì vậy, nếu được đầu tư và trau chuốt cả về nội dung cũng như hình thức, nó sẽ giúp quảng bá hình ảnh văn hóa quốc gia với bạn bè quốc tế, từ đó tạo ra những cơ hội mới trong hợp tác, đầu tư. Mặt khác, có thể nói rằng, các ngành công nghiệp văn hóa là con đường để văn hóa Việt Nam tham gia cạnh tranh trên thị trường văn hóa quốc tế. Mặc dù con đường đó còn nhiều khó khăn và phải đối mặt với không ít thách thức nhưng đó cũng chính là cơ hội để thúc đẩy văn hóa Việt Nam phát triển. Hy vọng rằng trong tương lai gần, văn hóa Việt Nam sẽ trở thành ngành công nghiệp ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới, để khẳng định sức mạnh là “quyền lực mềm" có vai trò không thể thay thế. Đồng thời góp phần quan trọng trong bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc.

Trịnh Thủy 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác