Đẩy mạnh công tác bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý các di sản văn hóa dân tộc

Di sản văn hóa là toàn bộ tài sản văn hóa do lịch sử để lại. Theo Luật Di sản văn hóa thì di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, nó có vai trò to lớn trong việc dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

Cố đô HuếCố đô Huế

Với hơn 54 dân tộc anh em, Việt Nam có một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng. Đây là một tài sản vô giá. Nói như Hồ Chủ tịch, nó là những “hòn ngọc quý”. Cho nên, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của cha ông để lại là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Theo cách phân chia hiện nay của UNESCO cũng như của Luật Di sản văn hóa Việt Nam, có hai loại di sản: di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm văn hóa tồn tại hữu hình mà con người có thể tiếp xúc một cách trực tiếp, cảm tính thông qua các giác quan. Đó là các công trình kiến trúc lịch sử văn hóa, các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, các di tích lịch sử văn hóa như đền, đài, lăng mộ, thành cổ, vật cổ và bảo vật quốc gia... Còn di sản văn hóa phi vật thể, theo Luật Di sản định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa , khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.

Như vậy, di sản văn hóa là sự kết tinh của các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của dân tộc, nó là cái hồn của dân tộc. Các giá trị được hình thành, liên hệ tạo nên một môi trường văn hóa để cho các thành viên, cộng đồng xã hội thêm sức mạnh và nó có ảnh hưởng đến hành vi hay rộng hơn là nhân cách và lối sống của con người. Cho nên, bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa chính là giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, nó có ý nghĩa to lớn đối với các thế hệ nối tiếp. Nói như nhiều nhà nghiên cứu văn hóa thì di sản văn hóa là “bức thông điệp” của thế hệ cha ông gửi lại cho thế hệ mai sau. Chúng ta thử hình dung khi một dân tộc mất đi các di sản văn hóa của mình thì dân tộc đó sẽ như thế nào? Có thể nói, mất di sản văn hóa là mất bản sắc văn hóa dân tộc và do vậy là mất tất cả. Như vậy, bảo tồn, tôn tạo và khai thác các di sản văn hóa trở thành vấn đề lớn của mỗi dân tộc chứ không phải của riêng cá nhân, tổ chức nào.

Trong những năm qua, từ khi Đảng, Nhà nước ta có những chủ trương đúng đắn trong công tác này. Hoạt động bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã có những bước tiến đáng kể. Công tác kiểm kê các di tích lịch sử văn hóa, sưu tầm văn hoá phi vật thể đã được chú ý quan tâm. Chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định, đặc biệt là đối với văn hóa các dân tộc thiểu số. Đúng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khoá IX nhận định: “Công tác kiểm kê di tích, sưu tầm văn hóa phi vật thể, xây dựng luật pháp, thực hiện các chương trình chống xuống cấp di tích đã được các cơ quan Trung ương và địa phương quan tâm thực hiện. Việc xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đạt được kết quả bước đầu. Với sự đóng góp của nhân dân, hàng trăm ngàn hiện vật, di vật văn hóa có giá trị được điều tra, phát hiện sưu tầm, ngăn chặn nguy cơ mai một. Hàng loạt cuộc khai quật lớn, có giá trị cao được thực hiện, đặc biệt là Khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Năm di tích và một di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới”.

Việc chống xuống cấp các di sản văn hoá đã được các cơ quan Đảng, Nhà nước tiến hành thực hiện từ cấp cơ sở đến Trung ương. Đặc biệt, ngày 29-6-2001, kỳ họp thứ chín Quốc hội khoá X nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Di sản văn hóa. Luật Di sản văn hóa được ban hành nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa  Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Đây rõ ràng là một bước tiến, thể hiện sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân về tài sản văn hóa quốc gia.

Tư tưởng chỉ đạo về bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa đã đi sâu vào quần chúng, được quần chúng ủng hộ, tham gia rộng rãi vào việc quản lý, tôn tạo và phát triển. Hiện nay, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa từng bước được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện, đặt nó đúng vị trí và từng bước được xã hội hóa. Những nỗ lực trong công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa không chỉ góp phần gìn giữ kho tàng quý báu của dân tộc mà còn có tác dụng thúc đẩy việc phát triển kinh tế. Nhiều lễ hội văn hóa như: văn hóa Nam Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc, lễ hội văn hóa Chăm và Tây Nguyên v.v.. đã góp phần khôi phục, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu, khách du lịch trong và ngoài nước ngày càng đông.

Đẩy mạnh công tác bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý các di sản văn hóa dân tộc - ảnh 2

Thánh địa Mỹ Sơn.

Bên cạnh những thành tựu nổi bật, chúng ta thấy còn có những hạn chế và yếu kém trong công tác này. Nhiều di tích tiếp tục bị xâm phạm, lấn chiếm, đánh cắp làm hư hại, thất thoát khá nặng nề. Nhiều di sản quý không còn khả năng khôi phục. Có trường hợp, di sản văn hoá, thiên nhiên quốc gia bị xâm lấn, tàn phá. ở một số nơi, trong khi tiến hành bảo tồn, trùng tu đã không cẩn thận, thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực chuyên môn, làm biến dạng, mất giá trị di tích, đặc biệt là các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến của nhân dân ta. Hiện tượng “chảy máu đồ cổ” chưa ngăn chặn được. Không ít văn hóa phi vật thể đang mai một dần, nhất là vùng đồng bằng dân tộc thiểu số (chẳng hạn, chữ viết các dân tộc chưa phát triển). Nhận định về những yếu kém trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, Hội nghị lần thứ 10 khoá IX đã nêu: “Việc bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số chưa đạt yêu cầu, một số giá trị văn hóa đang mai một hoặc bị khai thác thiếu hiểu biết vì mục đích thương mại”.

Do vậy, để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý các di sản văn hóa, chúng ta cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Hoàn chỉnh cơ chế đề cao trách nhiệm trong công tác quản lý di sản văn hóa của cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Xác định các tiêu chí cụ thể để phân cấp quản lý, tránh chồng chéo, trùng lắp.

Tuyên truyền giáo dục Luật Di sản văn hóa và Nghị định của Chính phủ về bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa để Luật này đi vào quần chúng nhân dân, làm cho mọi người dân trong xã hội có điều kiện hiểu biết và thực hiện.

Tăng cường hoạt động tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến các loại di sản văn hóa nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Điều 17 chương III Luật Di sản văn hóa có ghi: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hoá phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Và Điều 7, Chương II, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 của Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa: “Tăng cường việc truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể”.

Đầu tư hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ làm mai một hoặc thất truyền di sản văn hóa. Điều 20, Chương III, Luật Di sản văn hóa có ghi: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền”. Điều 7, Chương II, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa: “đầu tư và hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; ngăn chặn nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể”.

Mở rộng mô hình xã hội hóa hoạt động bảo tồn, tôn tạo di sản văn hóa để huy động mọi nguồn lực từ người dân trong nước và nước ngoài, để họ có thể tham gia vào công tác này dưới nhiều hình thức khác nhau.

Khuyến khích các hoạt động sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, phân loại, lưu giữ các di sản văn hóa để lưu truyền và giao lưu với văn hóa nước ngoài.

Nâng cao ý thức tôn trọng Luật Di sản và thực hiện Luật Di sản của mọi người dân, xây dựng thói quen, nếp sống trân trọng và đề cao di sản văn hóa dân tộc.

Vấn đề khó khăn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ này là, hiện nay, nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường, thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ mà thực chất là quá trình phương Tây hóa, tư bản hóa, nhiều hiện tượng văn hóa, trong đó có việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác đang diễn ra rất phức tạp so với thời kỳ trước đổi mới. Các di sản văn hóa dân tộc luôn ở trong thế bị động, chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó, trên thực tế, việc giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải bền bỉ, tế nhị, đầy tâm huyết chứ không thể một ngày một bửa và thiếu trách nhiệm. Mức độ thành công của công tác bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý các di sản văn hóa dân tộc đến đâu, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước về văn hóa.

 

Theo TCXDĐSVH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác