Đẩy mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển

(Cinet) - Tại Hội thảo “Xây dựng chính sách cấp bách trong lĩnh vực Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Gia đình" do Bộ VHTTDL tổ chức vừa qua, đại diện UNESCO tại Việt Nam đã có bài phát biểu với tựa đề “Đẩy mạnh Vai trò của Văn hóa trong Phát triển”. Dưới đây là nội dung bài phát biểu này.

Đẩy mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển - ảnh 1

Trong những thập niên vừa qua, chính phủ Việt Nam đã đề được nhiều thành tựu trên lĩnh vực văn hóa. Đặc biệt là việc các di sàn của Việt Nam được ghi danh vào các danh sách được quốc tế công nhận như Danh sách Di sản Thề giới hay Danh sách Di sàn Văn hóa Phi vật thế Đại diện của nhân loại đã góp phẫn nâng cao vị thế của đất nước trên trường thế giới.

Di sản của Việt Nam góp mặt trong danh sách được quốc tế công nhận cũng là minh chứng cho sự quan tâm của chính phủ Việt Nam đối với linh vực văn hóa.

Và chính bởi danh tiếng và sự ghi nhận đi kèm với trách nhiệm, Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn di sàn và văn hóa. Một trong những thành tựu đã đạt được là Luật Di sản Văn hóa sửa đổi năm 2009 đã phản ánh những thay đổi hiện thời trong xã hội và những cam kết trong những Công ước quốc tế mà Việt Nam mới phê chuẩn gần đây.

Tổ chức UNESCO đã vinh dự đã đóng góp một phần nhỏ bé cùng với Việt Nam giành được những thành tựu nói trên và UNESCO cũng hy vọng sẽ có thề tiếp tục mối hợp tác bền chặt trong những năm tới đây.

Lĩnh vực mà đại diện UNESCO muốn nói tới đó là văn hóa và phát triền, lĩnh vực rất cần có sự chi đạo của Bộ VHTTDL. Lĩnh vực này cũng cần có một sự đổi mới trong quan điểm của Bộ về văn hóa, một mối quan hệ chặt chẽ với các bộ ngành khác và những chuyển đổi để phù hợp với những phát triển kinh tế xã hội rất đáng kể của Việt Nam trong những năm gần đây.

Bộ VHTTDL có vai trò quan trọng trong việc tăng cường vai trò của văn hoá trong phát triển và trong việc bảo đàm phương pháp tiếp cận phù hợp văn hóa được áp dụng trên toàn quốc, vì Bộ tham gia trong ban chỉ đạo quốc gia để cụ thế hoá nội dung Nghị quyết Trung ương 5 - đã được phê duyệt trong kỳ họp thứ VIII nhằm bảo tồn giá trị văn hóa và bản sắc, và sử dụng văn hóa như là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Nghị quyết này đã nêu rõ mục tiêu “phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" và nhấn mạnh vai trò của văn hóa như là "nền tàng của xã hội, vừa là mục tiêu và vừa là động lực thúc đầy sự phát triển kinh tế - xã hội". Dưới đây là một số ví dụ minh họa lý do tại sao cần phải có chính sách cụ thể tập trung vào văn hóa và phát triển và kế hoạch hành động có thể hường tới phương pháp tiếp cận phù hợp văn hóa:

Việc xây dựng và ban hành một chính sách tống thể về Văn hóa và Phát triển sẽ hỗ trợ Bộ VHTTDL đóng góp xây dựng một đề xuất rõ ràng cho hướng phát triền mới của Việt Nam. Nó sẽ giúp thay đổi nhận thức hiện nay rằng văn hóa chỉ được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật và bảo tồn di sản, và chỉ có tác dụng làm đẹp thêm cho đời sống tinh thần của nhân dân. Một cái nhìn rộng hơn về văn hóa sẽ giúp các cán bộ nhà nước. khu vực tư nhãn và người dân nói chung hiểu được cách thức văn hóa mang lại lợi ích cho nước nhà.

Khi cập nhật cách nhìn mới về văn hóa và phát triển thì thậm chí có thể cho phép cập nhật kịp thời Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoàn 2010- 2015 để nó không bị gói gọn trong ba trang viết về văn hoá mà ở đó mục tiêu của sự phát triển văn hoá chỉ được đo bằng các danh hiệu "Gia đình văn hoá"và "Làng văn hoá". Văn hóa cò ý nghĩa rộng hơn thế và thực sự có thề bao hàm trong nhiều chương của văn bản mang tính định hướng quan trọng này. Cách tiếp cận tương tự cũng nên được áp dụng đối với Chiến lược phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2010-2020.

Việc phát huy văn hóa như là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế sẽ làm tăng giá trị cho đóng góp hiện tại của văn hóa vào GDP và giúp cải thiện sinh kế cộng đồng. Chẳng hạn như ở Việt Nam, các làng nghề thủ công góp phần đáng kể vào tạo việc làm cho người dân ở nông thôn. Trên 2000 làng thủ công ở Việt Nam đã sử dụng đến 1.5 triệu người ở các vùng nông thôn. Ở Quảng Nam, với hai di sản thế giới và 61 làng thủ công, du lịch ở đây đã tạo ra trên 16.000 việc làm và đóng góp khoảng 30-35% giá trị công nghiệp của tỉnh. Trong năm 2003, hàng thù công Việt Nam (đặc biệt là đồ tre, mây, gốm sứ) được xuất khẩu sang 133 quốc gia với giá trị hơn 350 triệu USD. Trong giai đoạn thực hiện Kê hoạch Hành động Quốc gia để bảo tốn phục hồi Nhã nhạc do UNESCO tài trợ, năm 2008, Nhã nhạc đã được biểu diễn ở nhà hát Duyệt Thị Đường 840 buổi cho 18.500 khách và đem lại cho nhà hát 2160.000 USD.

Bộ VHTTDL có trách nhiệm tham mưu cho Chính phủ về những chính sách đảm bảo phương pháp tiếp cận phù hợp văn hóa.

Mặc dù các văn bản chính sách đều nhắc đến tầm quan trọng và giá trị của sự đa dạng về tộc người và văn hóa ở Việt Nam, nhưng vẫn cần thiết phải có một chính sách cụ thể đối với phương pháp tiếp cận phù hợp về văn hóa được sử dụng trong các chương trình phát triền. Phương pháp này sẽ giúp đảm bảo sự khác biệt và tránh cách tiếp cận “đánh đồng” đang phổ biến hiện nay trên thề giới. Những nỗ lực cụ thể mà chính phủ hướng tới nhằm bảo tốn di sản và văn hóa cần phải được thực hiện ở tất cả các cấp và trên phạm vi cả nước để từ đó Việt Nam cò thề tiếp tục tự hào về sự đa dạng của mình trong nhiều thập niên tiếp theo.

Đế các cộng đồng địa phương tham gia vào quá trinh hoạch định các dự án và hoạt động tại địa phương theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Văn hóa có thể là một cách làm tích cực và giúp nâng cao tính hiệu quả và tầm ảnh hường của các thành tựu đã được thực hiện với những khoản đầu tư hợp lý, và với mục tiêu phục vụ cộng đống. Một trong những ví dụ minh chứng cho điều này là trường hợp xây dựng “nhà văn hóa". Theo báo cáo của Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Văn hóa thì ti lệ thôn bản có nhà văn hóa năm 2008 là 89%. Theo báo cáo dự thảo văn kiện, chương trình 135 trong giai đoạn tới sẽ tiếp tục đầu tư 3.800 công trình nhà văn hóa với kinh phí trên 1 ngàn tỷ đồng. Nếu như đảm bảo được rằng những nhà văn hoá này được xây dựng phù hợp với đời sống và nguồn lực vốn có và rằng mục tiêu xây nhà văn hóa là mục tiêu chung, thì cả nhà nước và nhân dân sẽ cùng được hưởng lợi. Còn nếu không thì chúng ta sẽ không thể thay đổi kết quả của bản Báo cáo đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với Chương trình 135 giai đoạn III. Qua điều tra, có đến gan 40% người dân không biết chắc chắn về sự tốn tại của nhà văn hóa của thôn mình. Mục tiêu của chương trình là cao quý, còn cách thực hiện cần phải phù hợp về văn hóa.

Chương trình tái định cư để xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La là một ví dụ khác cho thấy tầm quan trọng của tính phù hợp văn hóa đối với một dự án phát triển. Khi dự án thủy điện được tiến hành, người Thái buộc phải di dời nơi ở. Chương trình đã cho xây dựng nhà sàn bê tông để họ tái định cư. Tuy nhiên, dự án bị đình trệ bởi người dân không muốn chuyển đi cho đến khi những người làm dự án hiểu rằng đối với người Thái, ngôi nhà của họ chính là nơi chứa đựng văn hóa, hồn phách của tổ tiên. Chương trình đã ra chính sách cho bà con dỡ nhà mang theo, cho ô tô hỗ trợ mỗi gia đình chuyển nhà và hỗ trợ kinh phí đế họ tự mua thêm các vật liệu bị hỏng trong quá trình di chuyển để tự dựng lại nhà bằng chính ngôi nhà cũ của họ. Với việc tính đến yếu tố văn hóa này, bà con đã tự nguyện chuyển và việc tái định cư diễn ra nhanh chóng.

Ví dụ này cho thấy khi những người làm chính sách quan tâm đến tính đặc thù văn hóa của các cộng đông địa phương thì các dự án có thể được tiến hành thuận lợi hơn. Các chương trình trong những lĩnh vực khác như chương trinh phòng chống, truyền thông về y tế và chăm sóc sức khỏe, HIV, chương trình về bình đắng giới, hỗ trợ trẻ em, chương trình phát triển nông thôn mới, chương trình bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đối phó với biến đổi khí hậu cũng sẽ thành công hơn nếu quan tâm đến những đặc trưng văn hóa của các cộng đòng hưởng thụ dự án, công nhận những đóng góp của kiến thức và văn hóa bản địa. Đồng thời, bằng việc thực hiện những chương trình phát triển phù hợp về văn hóa, chúng ta cũng đóng góp vào việc bảo vệ nền văn hóa đa dạng của Việt Nam và đàm bào cho một tương lai bền vững.

Việc đẩy mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển cũng sẽ giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ của Việt nam (VDGs). trong đó có mục tiêu bào tốn văn hóa của đồng bào các dân tộc ít người, phát triền văn hóa thông tin, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân; và mục tiêu giảm khả năng dễ bị tổn thương và phát triển mạng lưới an sinh xã hội giúp cho các đối tượng yếu thế và người nghèo. Theo báo cáo tổng hợp của Ngân hàng Thế giới (2009), định kiến và rào cản văn hóa là một trong sáu lý do dẫn đến sự yếu thế và thua thiệt của người dân tộc thiểu số và những nhóm người chịu nhiều thiệt thòi khác. Việc đẩy mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển không chỉ phù hợp với những nhu cầu cấp bách của Việt Nam trong thời điểm này. Nó cũng góp phần giúp Việt Nam hoàn thành những nhiệm vụ của mình với cộng đồng quốc tế mà Việt Nam là một thành viên.

Ngày 28/2/2011, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết 65/166 về Văn hóa và Phát triển. Nghị quyết này công nhận rằng văn hóa là một phần thiết yếu của phát triển con người, là bản sắc, là nguồn sáng tạo cho các cá nhân và cộng đồng, và là một yếu tố quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế. Nghị quyết cũng coi văn hóa có một vai trò đóng góp quan trọng trong phát triền bền vững của các cộng đồng, trao quyền cho họ để họ có thể đóng một vai trò tích cực trong những chương trình phát triển.

Nghị quyết cũng đề cao vai trò quan trọng của văn hóa trong phát triển bền vững của các cộng đồng, dân tộc và quốc gia, trao quyền cho họ để họ có thể đóng góp một vai trò quan trọng trong những chương trình phát triền. Nghị quyết cũng nhấn mạnh đến những đóng góp của văn hóa trong những thành tựu phát triển của quốc gia và những mục tiêu phát triển quốc tề, bao gốm Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Nghị quyết đề nghị tất cả các quốc gia thành viên, các tổ chức quốc tề và phi chính phủ, đảm bảo việc lồng ghép văn hóa vào các quá trình và chiến lược phát triển ở tất cả các cấp.

UNESCO cam kết sẽ hỗ trợ Chính phủ Việt Nam và Bộ VHTTDL trong việc thực hiện những mục tiêu thiên niên kỳ của quốc gia có liên quan đến văn hóa, cũng như phát triển những chính sách, thiết chế và công cụ để văn hóa và phương pháp tiếp cận phù hợp về văn hóa được lồng ghép vào những chính sách và chiến lược phát triển của Việt Nam, với những lĩnh vực cụ thể như sau:

Đẩy mạnh hệ thống thống kê văn hóa nhằm thu thập và chia sẻ số liệu với các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ngoài phạm vi Bộ VHTTDL, nhằm làm thước đo cho những đóng góp của văn hóa trong phát triền, cùng với các chỉ số kinh tế khác. Một hệ thống thống kê văn hóa toàn diện cũng sẽ tạo cơ sở cho các chính sách văn hóa trong tương lai.

Phát triển một hệ thống công cụ và chỉ số để chỉ dẫn và đánh giá độ phù hợp về văn hóa của các chương trình phát triển, sao cho văn hoá địa phương được tính đến trong quá trình thiết kế và thực hiện dự án, và những giá trị văn hóa truyền thống không bị ảnh hưởng và mai một.

Phát triển các chính sách và hoạt động sử dụng văn hóa như một công cụ để đạt được phát triển bền vững, ví dụ trong phát triển du lịch và các ngành công nghiệp văn hóa.

Bảo vệ di sản văn hoá trong bối cảnh những thay đổi hiện tại như biến đổi khí hậu, di cư và đô thị hóa.

Nâng cao nhận thức về vai trò của văn hoá trong phát triển và những giá trị văn hóa truyền thống cho cộng đòng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

 

CN (Bài phát biểu của Đại diện UNESCO tại Việt Nam tại Hội thảo “Xây dựng chính sách cấp bách trong lĩnh vực VH,TT,DL&GĐ")

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác