Để Di sản tư liệu “sống” cùng xã hội đương đại

Cần nguồn nhân lực chất lượng cao, hài hòa được nhu cầu bảo tồn và phát huy giá trị di sản là những vấn đề được đặt ra tại hội thảo quốc tế Bảo quản và phát huy giá trị các di sản tư liệu vừa được tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội.

Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới.Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới.

Việt Nam có 2 di sản tư liệu (DSTL) được UNESCO  tôn vinh DSTL thế giới là Mộc bản triều Nguyễn và Bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê-Mạc (1442-1779). Đây là vinh dự song cũng đặt ra nhiệm vụ quan trọng là bảo tồn, phát huy được giá trị của DSTL.

Cần nguồn nhân lực chất lượng cao

Ngoài việc thường xuyên làm vệ sinh các ván khắc, đặc biệt với những tấm bị rêu mốc bám dày (do có thời gian dài ngâm dưới hầm ngập nước), Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Huế), nơi lưu giữ các bản khắc gỗ của Mộc bản triều Nguyễn đã có nhiều hoạt động phát huy các giá trị thông tin, văn hóa nơi mộc bản.

Ngoài việc tổ chức triển lãm, trưng bày, hội thảo, các bài viết để đưa Mộc bản đến với đông đảo công chúng, Trung tâm đã biên soạn lại và tái bản “Mộc bản triều Nguyễn-Đề mục tổng quan” dưới dạng điện tử.

Đặc biệt, Trung tâm đã làm phiên bản Mộc bản Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn (1010) để tặng thủ đô Hà Nội, làm phim “Dấu ấn Thăng Long-Hà Nội qua Mộc bản triều Nguyễn”, thực hiện trưng bày Mộc bản triều Nguyễn liên quan đến Thăng Long nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Tuy nhiên, do những tấm Mộc bản làm bằng gỗ thị, gỗ táo, gỗ nha đồng nên rất dễ bị hư hỏng bởi khí hậu nóng ẩm của nước ta tác động.

Bà Trịnh Thị Huệ, Giám đốc TT cho rằng cần tiếp tục tăng cường nghiên cứu và áp dụng các biện pháp thích hợp để kéo dài tuổi thọ các tấm Mộc bản này. Bên cạnh đó, việc lưu giữ bảo quản những “báu vật” này hết sức khó khăn và cầu kỳ do vậy cần có đội ngũ cán bộ đủ trình độ chuyên môn.

“Đây là nhu cầu cực kỳ cấp thiết đối với chúng tôi vì số lượng mộc bản rất lớn, toàn bộ khắc bằng chữ Hán-Nôm ngược, nhưng số người có khả năng nghiên cứu chuyên sâu về Mộc bản hiện nay không còn nhiều”, bà Trịnh Thị Huệ cho biết.

Do vậy, cần có chế độ ưu đãi đặc biệt để thu hút đào tạo nhân lực kế cận, nhằm khai thác phát huy tối đa một cách hiệu quả các tài liệu đặc biệt này.

Ngoài ra, 36.618 tấm Mộc bản được công nhận nằm ở Trung tâm lưu trữ quốc gia khu vực IV vẫn chưa phải là tất cả. Vẫn còn những tấm Mộc bản phân tán thuộc quyền sở hữu của các gia đình, dòng họ.

Bà Trịnh Thị Huệ bày tỏ mong muốn thu thập được đầy đủ những tấm Mộc bản “lưu lạc” này để có thể hoàn chỉnh bộ DSTL độc đáo này đồng thời bảo vệ, phát huy được giá trị với các điều kiện tốt nhất tại Trung tâm.

Hài hòa nhu cầu bảo tồn và phát huy

Nói về công tác bảo tồn, lưu giữ 82 tấm văn bia tiến sỹ, TS Đặng Kim Ngọc, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám cho biết, từ năm 1994, Văn Miếu đã xây 2 dãy nhà gỗ che nắng mưa cho 82 tấm bia này.

Việc Văn Miếu mở cửa rộng rãi cho khách du lịch tham quan, tìm hiểu về Văn bia tiến sĩ đã thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng, góp phần truyền thông rộng rãi về ý nghĩa và giá trị của những tấm bia này đến không chỉ người dân trong nước mà cả quốc tế.

82 thác bản bia đã được dập mới toàn bộ để phục vụ cho công tác nghiên cứu và lưu trữ, Trung tâm cũng tiến hành dịch ra tiếng Việt, tiếng Anh để in thành sách, số hóa bằng công nghệ thông tin, đồng thời tổ chức quảng bá rộng rãi giá trị của 82 tấm bia trên các phương tiện thông tin đại chúng và internet.

Tuy nhiên hiện nay có quá nhiều người, đặc biệt là các sĩ tử đến xoa đầu rùa, sờ vào các tấm bia đá, thậm chí dùng vật cứng khắc lên bia, ảnh hưởng đến hình dáng mỹ quan và tuổi thọ của bia.

“Giải pháp bảo vệ các tấm bia đá đã vấp phải mâu thuẫn giữa việc bảo vệ những tấm bia, rùa đội bia và nhu cầu tham quan, hưởng thụ di sản của khách tham quan”, TS Ngọc cho biết.

Nếu chúng ta sử dụng kính chịu  lực làm vách ngăn hai dãy nhà bia thì khách tham quan chỉ có thể đứng chiêm ngưỡng từ xa, giải pháp này hết sức an toàn nhưng vách kính lại không hòa nhập với không gian cổ kính của di sản.

Giải pháp thứ 2 là làm lan can bằng gỗ cao 1m quây xung quanh nhà bia, giải pháp này hài hòa hơn với cảnh quan nhưng không an toàn bằng việc sử dụng vách kính.

“Trong khi chờ thành phố Hà Nội quyết định phê duyệt chọn 1 trong 2 giải pháp thì hiện tại Văn Miếu vẫn phải huy động bảo vệ thường xuyên giám sát ở khu vực nhạy cảm này”, TS Đặng Kim Ngọc nói.

Di sản tư liệu xét về mặt nào đó chính là các báu vật của mỗi dân tộc, là nơi lưu giữ lịch sử, văn hóa của dân tộc đó trong quá trình hình thành tồn tại và phát triển. Do vậy, việc thực hiện các cơ chế để đảm bảo sự toàn vẹn của tài liệu trên giấy, phim, radio, điện tử và nghe nhìn là điều hết sức cần thiết.

Tuy nhiên, để những di sản ấy trường tồn cùng lịch sử dân tộc, duy trì được sức sống, tầm ảnh hưởng và giá trị lịch sử, văn hóa của mình trong xã hội đương đại, cần tăng cường truyền thông, thông tin những kiến thức từ kho DSTL tới đông đảo cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ để tăng cường nhận thức, kiến thức cho thế hệ tương lai của đất nước về lịch sử, văn hóa của dân tộc mình.

Thế giới đã có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này mà chúng ta có thể học hỏi. Chẳng hạn, theo TS Marchena M.F Marchena, Giám đốc Lưu trữ quốc gia Cuba, cần coi những thông tin, kiến thức thu thập được từ kho tàng di sản là nguồn lực chủ đạo và chiến lược phục vụ cho nền kinh tế, xã hội đương đại, đặc biệt là trong quá trình đưa ra những quyết định quan trọng đối với mọi hoạt động trong xã hội đương đại của quốc gia, thì DSTL mới thực sự phát huy  được hết giá trị và vai trò lịch sử của mình.

 

Theo CP

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác