Di sản văn hoá thế giới ở Việt Nam: Vẫn cần “khẩn cấp” bảo vệ

Tính đến ngày 27/6./2011, di tích thành nhà Hồ (Thanh Hoá) đã trở thành di sản văn hoá thế giới (DSVHTG), di sản thiên nhiên thế giới (DSTNTG) thứ 14 của VN được UNESCO công nhận.

Nhã nhạc Cung đình Huế. (Ảnh:Internet)Nhã nhạc Cung đình Huế. (Ảnh:Internet)

Và vẫn còn nhiều di sản văn hoá khác ở Việt Nam đang trong diện lập hồ sơ… Nhưng sau khi thành DSVHTG, cuộc sống của di sản hiện còn bỏ ngỏ.

Tiềm ẩn kho di sản

Kể từ năm 1993, khi quần thể cố đô Huế được UNESCO công nhận là DSVHTG, thì VN thấy rõ tiềm ẩn kho tàng di sản văn hoá quý báu đang nắm giữ khá nhiều, nằm rải đều khắp đất nước. Và tin vui đến với VN ngày một nhiều hơn. Năm 1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là DSTNTG có giá trị ngoại hạng về cảnh quan. Năm 2000, vịnh Hạ Long lại được công nhận thêm là di sản địa chất thế giới vì những giá trị độc đáo về địa chất địa mạo. Năm 1999, thánh địa Mỹ Sơn - được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của đạo Hindu (Ấn Độ giáo) ở khu vực Đông Nam Á - được UNESCO công nhận là DSVHTG. Năm 1999, UNESCO công nhận phố cổ Hội An là DSVHTG. Năm 2003, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là DSTNTG.

Ngày 3/10/2010, cao nguyên đá Đồng Văn đã chính thức là thành viên Mạng lưới công viên địa chất toàn cầu của UNESCO - công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của VN và là thứ hai của Đông Nam Á. Ngày 1/8/2010, UNESCO công nhận khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là DSVHTG. Ngày 27/6/2011, UNESCO đã công nhận di tích thành nhà Hồ ở Thanh Hoá là DSVHTG.

Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là “Kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Năm 2005, không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là “Kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Năm 2009, UNESCO công nhận quan họ Bắc Ninh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày 1.10.2009, ca trù của VN được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Cần bảo vệ khẩn cấp

Trong số 14 di sản văn hoá, thiên nhiên thế giới VN hiện nắm giữ, di sản nào cũng có những vấn đề cần được bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo, phát triển nhằm mang lại những giá trị văn hoá cụ thể tham gia vào cuộc sống con người hiện tại và tương lai, nhưng duy nhất ca trù là nằm trong danh sách “đỏ” của UNESCO: “Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp”. Với bề dày của lịch sử, chiều sâu của nghệ thuật và mang bản sắc dân tộc rõ rệt, ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ ở VN mà trên cả thế giới. Nhưng theo một thống kê của Cục Di sản văn hoá VN và của các nhà nghiên cứu, đến giữa năm 2009 có 63 câu lạc bộ ca trù với khoảng 769 người ở 14 tỉnh, thành phố. Trong đó có 513 đào nương và 256 kép đàn, người đánh trống chầu. Tuy nhiên, số nghệ nhân có thể hát được từ 10 làn điệu trở lên rất hiếm. Tại Viện Âm nhạc hiện đã lưu trữ được 7 điệu múa ca trù và 42 bài bản ca trù. Các văn bản Hán Nôm về ca trù là 26 bản và khoảng 25 cuốn sách về ca trù.

Việc phát triển ca trù, đưa vào một sinh hoạt văn hoá thường xuyên, rộng khắp gặp khó khăn ngay ở những thành phố lớn. Ở HN, hoạt động thường xuyên thì cũng chỉ có vài “giáo phường” như: Thái Hà, CLB ca trù Thăng Long, CLB ca trù Hà Nội (Bích Câu đạo quán), CLB ca trù Lỗ Khê (xã Liên Hà, Đông Anh), CLB ca trù thôn Chanh (xã Văn Nhân, Phú Xuyên)... Các văn bản ca trù cũng chỉ trong phạm vi “nội bộ”, ít được phổ biến. Những sản phẩm nghe - nhìn về ca trù cũng hiếm, không được đầu tư nhiều để có thể cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật đương đại khác.

Rồi việc dạy ca trù cũng chưa có một phương hướng cụ thể trong các trường âm nhạc, trong bộ môn âm nhạc ở các bậc học phổ thông, sư phạm, mà chỉ như tự phát theo yêu cầu đơn lẻ của “khách hàng” ở các “giáo phường”, hay câu lạc bộ ca trù. Việc nối tiếp nhiều thế hệ cũng là rất hiếm, ít có ca nương trẻ, nhạc công trẻ, mà phần lớn ca nương, nhạc công đã có tuổi. Trong các sự kiện văn hoá thì ca trù chỉ là một tiết mục trên sân khấu mà tính chất “nguyên gốc” cũng bị phôi phai. Ngay cả trong việc giới thiệu quảng bá văn hoá Việt ra bên ngoài, thì ca trù cũng như một nét chấm phá lạ để thỏa sự hiếu kỳ của du khách, chưa có một sự giới thiệu bài bản, quy mô, lâu dài... về một bộ môn nghệ thuật, một loại hình âm nhạc mang tính di sản văn hoá của nhân loại.

Vẫn còn đó câu hỏi làm sao cho di sản không chỉ là “bảo tàng” mà phải được phát triển và sống, tồn tại thật sự trong các sinh hoạt văn hoá cộng đồng ngay ở nơi nó sinh ra, trước khi mang di sản đi ra thế giới hoà mình vào dòng chảy của văn hoá nhân loại.

 

Theo LĐ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác