Đờn ca tài tử: Sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo của người dân Nam Bộ cần được gìn giữ và phát huy

Đã hơn một thế kỷ nay, đờn ca tài tử Nam Bộ đã gắn bó với người miền Nam như một nét văn hóa đặc sắc. Ở nông thôn, hầu như ai cũng biết vài ba câu vọng cổ, cải lương. Ở nhiều thôn, ấp, chẳng ai bảo ai, cũng rủ nhau thành lập các nhóm đờn ca tài tử để “giúp vui” cho thôn, ấp hay đơn giản chỉ là để giải khát “cơn ghiền” đờn ca cho riêng mình.

Biểu diễn đờn ca tài tử Nam bộ trên thuyền.Biểu diễn đờn ca tài tử Nam bộ trên thuyền.

Mọi lúc, mọi nơi

Có thể nói, đờn ca tài tử đã trở thành nhu cầu văn hóa, nhu cầu tinh thần của đời sống thôn quê Nam Bộ. Người ta đờn ca trong các lễ hội, đám cưới, đám giỗ, những buổi làm quen, họp mặt. Nhưng nhiều khi, chỉ có một mình, trên đường ra ruộng, chống xuồng ba lá giữa mênh mông đồng nước, người ta vẫn hát vài câu vọng cổ “nằm lòng” để tự giãi bày nỗi lòng của mình hay tự thưởng thức lời ca phóng khoáng quen thuộc.

Có lẽ, sức hút của đờn ca tài tử chính là ở các cung bậc trầm bổng của nó rất phù hợp với mọi khía cạnh tâm trạng con người. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhạc tài tử Nam Bộ dựa theo học thuyết âm – dương, ngũ hành, với ngũ cung: Giốc: Hò (Mộc), Chủy: Xự (Hỏa), Cung: Xanh (Thổ), dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông mang trong mình cái gốc luân lý, mục tiêu đào tạo cung cách làm người.

Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ, vừa dịu êm ngọt ngào dễ hòa vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ, làng xưa. Nó phù hợp vì rất đa dạng đáp ứng được mọi khía cạnh tình cảm con người, hoàn cảnh cuộc đời. Có đủ 4 điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán, 4 hơi: Xuân, Ai, Đào, Ngự, chia ra: 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 Bài (Ngự)...

Vẫn bản nhạc đó, người ta chỉ cần thay lời mới là sát hợp trong mọi hoàn cảnh: quan, hôn, tang, tế, biệt ly, thất tình, thất sủng..., nên rất đắc dụng, càng đi sâu vào đời sống, bài ca càng như có sức sống riêng để tồn tại và phát triển. Vì nó đã là tiếng lòng của mỗi người.

Đờn ca tài tử: Sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo của người dân Nam Bộ cần được gìn giữ và phát huy - ảnh 2

Chơi đờn ca tài tử những nơi khuê các.

Có nguồn gốc rất “bác học”!

Tuy vậy, nhạc tài tử lại có nguồn gốc rất “bác học”. Theo một nhà nghiên cứu âm nhạc cho biết: vào khoảng năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất bôn, một nhạc quan của triều đình Huế là Nguyễn Quang Đại (còn gọi là Ba Đợi)  vào Nam Kì ở vùng Đa Kao, Sài Gòn, rồi xuống miệt Cần Đước, Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn cũ), rồi lại lên xuống và qua đời tại Hộ 16 (Q.8, TP.HCM) ngày nay.

Ông dạy, phổ biến nhạc lễ, nhạc tài tử, có cải biên. Các thế hệ học trò của ông rất đông ở nhiều nơi, nhiều người nổi danh như: Sáu Thới, Năm Xem, Ba Đồng (ở Chợ Lớn), út Lăng (ở Bình Dương). Lớp sau có: Tư Huyện, Bảy Hàm, Tư Tụi, Văn Sĩ, Sáu Thoàn... Đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ở Nam Bộ đã hình thành 2 nhóm ca nhạc tài tử tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài mới bổ sung vào.

Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại). Ông Ba Đợi có công lớn, đã cùng các văn nhân và học trò giỏi ra sức nghiên cứu, cải biên các bài bản gốc của Cung đình Huế, bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp, tạo nhịp điệu hòa hợp với ngôn ngữ, phong các của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào quần chúng.

Đặc biệt, đến năm 1919, nhạc sĩ tài ba Cao Văn Lầu sáng tác bài Dạ cổ hoài lang tại quê hương Bạc Liêu – lan nhanh ra ở Nam Bộ, thì vọng cổ và đờn ca tài tử đã thực sự trở thành món ăn tinh thần của mọi tầng lớp quần chúng...

Không chỉ có giới công, nông, binh mà cả giới tri thức ở Nam Bộ đều rất yêu thích và tham gia học đờn ca tài tử, cải lương. Những học trò nổi danh của thầy Ba Đợi, thầy Sáu Lầu có nhiều thầy thông, thầy ký, đốc học, hương chức hội tề. Vì đờn ca tài tử vừa bình dân, vừa cao cấp, vừa gần gũi, vừa thâm sâu, lời ca quyện chặt tiếng đờn, mang theo cả tâm hồn nghệ sĩ đến người nghe. Vì thế, nó nhanh chóng thâm nhập vào quần chúng, trở thành một “sân chơi” ở các làng quê.

Hằng ngày, nhiều người làm lụng vất vả, nhưng chiều đến, phải tranh thủ về sớm để kịp có mặt tham gia hoặc thưởng thức buổi đờn ca tài tử. Có khi chỉ để “xuống xề” một câu vọng cổ sao cho “ngọt”, cho “mùi”. Năm này tháng nọ nhiều khi cũng chỉ những bài bản cũ, nhưng người đờn, người nghe vẫn không chán.

Thỉnh thoảng, có người cao hứng phát triển thêm lời mới, hợp tình hợp cảnh lại được mọi người vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Nhiều nam, nữ thanh niên sáng dạ nghe riết thuộc lời, thuộc giọng, được vào ca, được truyền nghề trở thành những hạt nhân nòng cốt của các ban nhạc đờn ca tài tử.

Cần được gìn giữ, phát huy

Dần dần, ở các xóm ấp đều đua nhau có ban đờn ca tài tử riêng. Họ tập hợp lớp trẻ và bà con trong xóm, ấp mình để thỏa mãn thú vui “văn nghệ”, đồng thời “luyện ngón, luyện nghề” để thi thố tài năng khi giao lưu với ban nhạc các ấp, xã khác.

Lúc này, đờn ca tài tử trở thành một hoạt động mang tính cộng đồng sâu sắc, bình đẳng giữa mọi người không vụ lợi, không cần thù lao, chỉ có tính cách “giúp vui”. Ai biết đờn thì đờn, biết ca thì ca, một bài cũng được, thậm chí đờn ca có lỡ “rớt” nhịp cũng chẳng ai chê cười mà còn được động viên cố gắng. Nhất là sau này, đờn ca tài tử còn đi vào nhiều vấn đề thời sự, đả phá thói hư, tật xấu, ca ngợi các con người điển hình, nêu gương cho làng xóm càng được đông đảo bà con hoan nghênh.

Rõ ràng, đờn ca tài tử là một sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo của người dân Nam Bộ rất cần được gìn giữ, phát huy. Vì vậy, vừa qua, Bộ VHTTDL đã giao cho Cục Di sản văn hóa, Viện Âm nhạc, CQĐD Bộ VHTTDL tại TP.HCM phối hợp với UBND TP.HCM và các tỉnh thành phía Nam có đờn ca tài tử lập hồ sơ trình UNESCO công nhận đờn ca tài tử là Di sản phi vật thể nhân loại.

 

Theo VH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác