Động lực văn hóa của đổi mới ở Việt Nam

Có thể quan niệm rằng, nếu đổi mới là động lực nổi bật, bao trùm của phát triển thì, sức mạnh tổng hợp, sâu xa, sức sống bền bỉ của động lực đổi mới này lại bắt nguồn từ văn hoá. Văn hoá, với sự thẩm thấu lẫn nhau cả vật chất lẫn tinh thần, cả quá khứ - hiện tại và tương lai, cả truyền thống và hiện đại, cả tinh thần, bản sắc dân tộc với tinh hoa nhân loại, tinh thần và xu thế của thời đại, đó chính là động lực của phát triển và phát triển bền vững. Động lực ấy của văn hoá cũng là của đổi mới.

Động lực văn hóa của đổi mới ở Việt Nam - ảnh 1

1. Động lực văn hoá trong hệ động lực của đổi mới và phát triển

Trên một cái nhìn tổng thể và từ yêu cầu phát triển, đổi mới chẳng những là đường lối, quyết sách chiến lược, là phương thức và con đường dẫn tới phát triển mà còn là động lực tổng quát, bao trùm của phát triển ở nước ta: phát triển đất nước và dân tộc, phát triển con người và xã hội.

Hiếm thấy có một đường lối, chính sách nào lại nhanh chóng đi vào cuộc sống, như đường lối, chính sách đổi mới. Bởi lẽ, đổi mới là đòi hỏi bức xúc, chín muồi của bản thân cuộc cống. Đời sống, lợi ích và nhu cầu thường nhật của người dân hối thúc phải đổi mới và từng chủ thể phải tự đổi mới. Hiếm có sự gặp gỡ nào tự nhiên, thống nhất, gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân như sự gặp gỡ trong đổi mới, bằng đổi mới. Đây là trạng thái lý tưởng nhất của đồng thuận, sự hài hoà ý Đảng, lòng dân. Do đó, khi Đảng khởi xướng đường lối đổi mới thì nhân dân nhanh chóng hưởng ứng, mọi người, mọi nhà, mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương và cơ sở đều nhanh chóng nhập cuộc. Đổi mới đã trở thành ngôn ngữ quen thuộc hằng ngày, đi vào tư duy, ứng xử, lối sống, hành vi của mỗi người.

Đổi mới là động lực của phát triển mà văn hoá là động lực của đổi mới, văn hoá hoà nhập như một với đổi mới để văn hoá và đổi mới, đổi mới và văn hoá thực sự là động lực thúc đẩy phát triển ở nước ta. Sự thâm nhập vào nhau và trở thành nhau, thành một tác động chỉnh thể, thống nhất, đồng nhất này giữa văn hoá với đổi mới và ngược lại là một thực tế hiển nhiên sinh động, làm sáng tỏ phép biện chứng của phát triển, là sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn chứ không phải là một suy lý tự biện kiểu câu chữ.

Đổi mới là một thuộc tính bản chất của văn hoá. Văn hoá xa lạ với những gì trì trệ, sơ cứng, giáo điều, những khuôn sáo và sự dập khuôn máy móc. Cái đích thực của văn hoá, làm nên giá trị của nó đòi hỏi năng lực sáng tạo, trải qua lao động bền bỉ chẳng những công phu khó nhọc mà còn tình thế nữa. Để sáng tạo, chủ thể văn hoá, dù là một cá nhân - cá thể hay một tổ chức - cộng đồng, rộng lớn hơn là cả dân tộc và nhân loại, hết thế hệ này sang thế hệ khác phải vượt qua những lối mòn, sự lặp lại chính mình để khám phá và sáng tạo cái mới. Đổi mới là con đường, phương thức thực hiện sáng tạo văn hoá và sáng tạo là hồn cốt, thần thái, sinh khí của văn hoá. Sáng tạo đòi hỏi phải đổi mới, cách tân và mọi đổi mới, cách tân chỉ có giá trị và ý nghĩa văn hoá khi nó được thai nghén, ấp ủ, nẩy mầm, đơm hoa kết trái bởi sáng tạo.

Tham gia hệ động lực của đổi mới và phát triển có nhiều yếu tố với tư cách động lực. Những động lực đó không tách biệt, riêng rẽ mà liên kết, chi phối, chế ước lẫn nhau. Trong tính động và hệ thống, các nhân tố động lực này trong chuyển hoá nhân - quả không chỉ thúc đẩy đổi mới mà còn tác động thúc đẩy lẫn nhau. Mỗi nhân tố động lực vừa là tác động để thúc đẩy nhân tố khác, lại vừa tiếp nhận tác động từ những nhân tố khác để tự thúc đẩy, đồng thời cùng tác động tới đổi mới. Những chuyển động tích cực và biến đổi mạnh mẽ của đổi mới lại truyền xung lực cho các nhân tố động lực, như nuôi sống nó bằng những dinh dưỡng xã hội sinh ra trong đổi mới để đổi mới phát triển và từng động lực của đổi mới cũng lại tiếp tục lớn lên.

Lợi ích vật chất trong sản xuất, kinh doanh, trong hoạt động kinh tế, có thể nói là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất, cũng dễ nhận thấy nhất, bởi con người và cả cộng đồng xã hội những con người phải sống bằng lợi ích, tồn tại vì lợi ích mà trước hết là lợi ích vật chất. Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế thị trường cạnh tranh và giờ đây là kinh tế thị trường tỏ rõ ưu thế hơn hẳn của nó so với kinh tế hiện vật, kế hoạch và nó tự mở lấy đường đi, tới phát triển năng động, sôi động, phủ định cơ chế bình quân, bao cấp vốn sinh ra sự thụ động, trí tuệ, thậm chí làm biến dạng và tha hoá lao động lẫn các quan hệ xã hội một thời.

Cùng với động lực lợi ích, nói rộng hơn là động lực kinh tế còn có động lực công bằng và bình đẳng, dân chủ và tự do. Đây là những động lực kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội, thúc đẩy đổi mới và phát triển ở nước ta. Tính chất "kép" của những động lực này đóng vai trò nguyên tắc chỉ đạo việc hoạch định chính sách cũng như cải cách thể chế nhằm thúc đẩy tăng trưởng, tiến bộ, phát triển từng phương diện cấu thành đời sống xã hội cũng như tạo ra biến đổi tích cực trong xã hội tổng thể nói chung. Những nhân tố động lực này tác động tới đổi mới để phát triển xã hội thông qua việc tác động tới con người, tổ chức bộ máy (thiết chế), thể chế (luật pháp, chính sách), tới môi trường xã hội, thậm chí cả môi trường tự nhiên - cái giá đỡ vật chất của đời sống con người và cộng đồng xã hội. Rõ nét nhất là công bằng, bình đẳng về cơ hội phát triển (chứ không dừng lại ở phân phối lợi ích), là thực hành dân chủ và tôn trọng tự do, khẳng định vai trò cá nhân trong quan hệ hài hoà với xã hội, trong hành lang luật pháp và kỷ cương xã hội. Nhóm động lực nêu trên tác động tới đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị (hệ thống chính trị), đó là hai lĩnh vực then chốt, rường cột của xã hội.

Cùng với các động lực đó còn có động lực văn hoá. Đây là văn hoá được khu biệt theo nghĩa hẹp, trực tiếp, đó là văn hoá tinh thần, là đời sống tinh thần của con người và xã hội. Cũng có thể nhận diện động lực văn hoá này như những loại hình văn hoá, xét về mặt cấu trúc. Đó là khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo mà từ thực tiễn đổi mới, Đảng ta sớm nhận rõ vai trò quốc sách hàng đầu của nó. Đây là lĩnh vực thể hiện rất rõ đặc tính sáng tạo và đổi mới của văn hoá thông qua hoạt động lao động trí óc với hàm lượng trí tuệ (chất xám) rất cao của các chủ thể sáng tạo - giới trí thức làm công việc nghiên cứu, phát minh, sáng chế và đào tạo, sản xuất ra tri thức và các giá trị tinh thần. Trên phương diện văn hoá tinh thần và đời sống tinh thần, lý luận có một vai trò đặc biệt, nó gắn chặt với hệ tư tưởng và tạo dựng niềm tin, bồi đắp tình cảm, giáo dục đạo đức xã hội. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị, cái cốt yếu của văn hoá chính trị có tác dụng và ảnh hưởng trực tiếp tới lãnh đạo và quản lý, tới hoạch định đường lối chính sách. Thiếu vắng những giá trị này, xã hội không thể phát triển lành mạnh được. Lệch lạc những chuẩn mực giá trị này còn có thể đẩy tới sự suy đồi xã hội.

Động lực văn hoá, nhất là văn hoá tinh thần, nổi bật ở ba chiều cạnh hay ba bộ phận: KHOA HỌC - ĐẠO ĐỨC - NGHỆ THUẬT ứng với ba giá trị phổ quát: CHÂN - THIỆN - MỸ, đem lại những bảo đảm: NHÂN BẢN - NHÂN ĐẠO - NHÂN VĂN của phát triển, của đổi mới để phát triển.

Động lực văn hoá nằm trong hệ động lực của đổi mới và phát triển lại quy tụ vào con người, nhân tố con người, nguồn nhân lực mà giờ đây, trong khung cảnh xã hội hiện đại, xã hội thông tin, kinh tế tri thức, sự phát triển nhảy vọt và đột biến của khoa học - công nghệ chúng ta hiểu rằng, vốn người, tài nguyên con người, "tư bản" người là nguồn vốn quý giá nhất, quan trọng nhất và quyết định sự phát triển. Chất lượng con người, trên cả hai phương diện cá thể và xã hội là bảo đảm đầy tin cậy và tính triển vọng của phát triển bền vững, của hiện đại hoá xã hội.

Văn hoá, trong chiều sâu bản chất của nó lại chính là trình độ người trong phát triển. Văn hoá là thước đo sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, nói theo cách nói của C.Mác, là sự bộc lộ đầy đủ những sức mạnh bản chất người (nhân tính) của con người. Hoàn cảnh tạo ra con người trong chừng mực mà con người tác động trở lại hoàn cảnh. Nếu con người là sản phẩm của hoàn cảnh thì vấn đề là ở chỗ, phải tạo ra hoàn cảnh có tính người ngày càng nhiều hơn. Văn hoá là động lực của phát triển, của đổi mới, điều đó cũng có nghĩa con người là động lực, đồng thời là mục tiêu của phát triển, của đổi mới ở Việt Nam.

2. Biện chứng của sự sinh thành và phát triển giữa văn hoá và đổi mới nhìn từ quan điểm động lực

Từ thực tiễn đổi mới, mở cửa và hội nhập, trong đó bao hàm việc xây dựng và phát triển văn hoá, một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo quan điểm của Đảng, có thể thấy rõ tác động biện chứng giữa văn hoá và đổi mới cũng như giữa đổi mới và văn hoá ở nước ta.

Ngay trong luận đề, đổi mới trước hết là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế đã hé lộ tầm quan trọng của văn hoá như một lực đẩy đối với đổi mới. Như đã nói, đổi mới tư duy là tiền đề nhận thức, tiền đề lý luận của đổi mới mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội trong thực tiễn. Đây là sự thay đổi phương pháp và phong cách tư duy, cả nội dung, trình độ và chất lượng của tư duy. Theo đó, sản phẩm của quá trình tư duy, nhận thức được sinh thành và phát triển trong thực tiễn, nhờ đó mới mà cũng thay đổi tương ứng. Sản phẩm ấy là tư tưởng lý luận. Không đổi mới tư duy, không thể sinh thành lý luận mới, không thể có nhận thức lý luận mới, "làm mới" cả lý luận gắn liền với sự trưởng thành nhận thức của chủ thể.

Với đổi mới tư duy, con người phải nỗ lực tự vượt qua những hạn chế của tư duy kinh nghiệm, vươn tới tư duy lý luận, thanh toán những rào cản của chủ nghĩa kinh nghiệm, bệnh giáo điều và sách vở, chủ nghĩa hình thức, lối tư duy siêu hình, chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí. Có vượt qua những rào cản này, không chỉ trong nhận thức mà còn trong tâm lý, thói quen, tập quán mới mở đường đi tới tư duy lý luận - khoa học thực sự, mới có thể vươn tới sự sáng tạo, tính chủ động tích cực và độc lập sáng tạo. Đây là một quá trình phức tạp, lâu dài, không hề giản đơn, không chỉ giải quyết nhanh chóng, một lần là xong. Bằng chứng là, đổi mới đã trải qua 1/4 thế kỷ nay nhưng đổi mới tư duy vẫn còn luôn luôn mới, và là đòi hỏi cấp thiết, vẫn là một vấn đề thời sự, không chỉ đối với lãnh đạo, quản lý và giới học thức mà còn đối với mọi người dân trong xã hội.

Đổi mới tạo ra môi trường, hoàn cảnh thuận lợi chưa từng có để đổi mới tư duy, điều đó bắt nguồn từ sự hối thúc của cuộc cống "tồn tại hay không tồn tại"? "Đổi mới hay là chết"?. Đến lượt nó, đổi mới tư duy cùng với kết quả của đổi mới tư duy tác động vào đời sống hiện thực mới làm cho đổi mới từ khả năng đi tới hiện thực, đây chính là sự vận động của thực tiễn hoá lý luận và lý luận đóng vai trò "lãnh đạo thực hành" như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ(1).

Tác dụng thúc đẩy đổi mới của văn hoá tư duy và tư tưởng thông qua đổi mới tư duy là vô cùng to lớn và sâu sắc. Chỉ riêng quyết sách đổi mới được đưa ra tại Đại hội VI, Đại hội khởi xướng và mở đầu công cuộc đổi mới đã là một minh chứng đầy sức thuyết phục. Thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó quyết tâm đổi mới, thái độ tự phê phán về những sai lầm chỉ đạo chiến lược, những biểu hiện tả khuynh, chủ quan, duy ý chí, làm trái quy luật thể hiện trách nhiệm và bản lĩnh của Đảng. Những bài học được Đại hội tổng kết đã đặt nền tảng phương pháp luận và quan điểm khách quan, khoa học của Đảng chỉ đạo công cuộc đổi mới. Đó là tôn trọng quy luật, tôn trọng dân chúng, dân là gốc, đổi mới vì cuộc sống của dân, là kiên trì lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới và đổi mới tư duy đã dẫn đến tư duy mới về sản xuất hàng hoá và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, coi trọng quy luật giá trị và thị trường, coi lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp để phát triển kinh tế, là cơ sở để thực hiện lợi ích xã hội, kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn. Từ đó mới dẫn đến xoá bỏ "ngăn sông cấm chợ", khuyến khích làm giàu bằng lao động, theo pháp luật, áp dụng cơ chế thị trường, cạnh tranh, tách bạch quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của người lao động, của doanh nhân với quyền quản lý hành chính của Nhà nước theo pháp luật. Cũng từ đó, chúng ta sửa luật pháp, thể chế, thay đổi mô hình phát triển và cơ chế quản lý, đổi mới chính sách, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Từ áp dụng cơ chế thị trường đến phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường, từ kết hợp tăng trưởng kinh tế với từng bước giải quyết công bằng xã hội đến chỗ khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công bằng xã hội trong từng bước đi, trong từng chính sách; chấp nhận phân hoá giàu nghèo đi liền với điều tiết xã hội; chú trọng thực hiện chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo, thay đổi căn bản quan niệm và chính sách về công bằng xã hội, coi thực hành dân chủ và đại đoàn kết là những nhân tố quyết định thắng lợi của đổi mới. Đó là những nội dung cụ thể của nhận thức mới, lý luận mới, là thành tựu của đổi mới tư duy. Quá trình hình thành và hoàn chỉnh hệ mục tiêu của đổi mới, xác lập các quan điểm nguyên tắc, bước đi trong đổi mới, giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới với ổn định và phát triển, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị và hệ thống chính trị, từng bước hoàn chỉnh lý luận về định hướng và định hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực và nội sinh, khai thông và tận dụng có hiệu quả các ngoại lực và ngoại sinh hướng vào phát triển... Đó là những bước tiến của đổi mới tư duy, của đổi mới nhận thức lý luận và hình thành lý luận đổi mới, lý luận về chủ nghĩa xã hội Việt Nam của Đảng ta.

Văn hoá chính trị Việt Nam hình thành từ trong cội nguồn truyền thống dân tộc với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, được phát triển từ trong thực tiễn đổi mới đã tác động tích cực trên nhiều mặt, thúc đẩy tiến trình đổi mới và hiện đại hoá ở nước ta. Đổi mới, đặc biệt là đổi mới hệ thống chính trị đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển chính trị học và các khoa học chính trị non trẻ nhưng đầy triển vọng ở nước ta. Lĩnh vực khoa học này ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước, trong việc đảm bảo dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xã hội, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống cũng đặt ra những yêu cầu mới mẻ đòi hỏi các khoa học chính trị ở nước ta phải đáp ứng. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có những bảo đảm chính trị đúng đắn để không chệch hướng, nhất là bảo đảm công bằng, bình đẳng xã hội và khắc phục những hệ lụy về mặt xã hội khi đi vào kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập. Cũng như vậy, việc đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, trong nhà nước pháp quyền và xây dựng xã hội dân chủ, một Đảng duy nhất cầm quyền đòi hỏi phải dựa trên những luận cứ khoa học xác thực của chính trị học và khoa học chính trị. Việc đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước theo sự phân định rành mạch chức năng và nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm, việc khắc phục tính chất hình thức, tình trạng quan liêu, hành chính hoá trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, của các đoàn thể quần chúng để có thể phát huy tác dụng thực sự của những tổ chức này là cả một vấn đề lớn phải giải quyết, có quan hệ trực tiếp tới lý luận chính trị và thực tiễn chính trị. Tựu trung lại, nhân tố động lực của văn hoá chính trị muốn phát huy tác dụng thúc đẩy mới không thể không kết hợp đồng bộ các quá trình dân chủ hoá, khoa học hoá và xã hội hoá hoạt động tham chính và nâng cao tính tích cực chính trị của mọi đối tượng trong xã hội. Văn hoá chính trị mang một đặc trưng tổng quát, bao trùm là văn hoá dân chủ với biểu hiện của nó là thực hành dân chủ rộng rãi và thực chất, trước hết ở trong Đảng

Các tổ chức đoàn thể phải làm sao cho có sức lôi cuốn, sự tin cậy của các hội viên, đoàn viên, vừa bảo vệ lợi ích, vừa giáo dục ý thức, bổn phận, trọng trách của người dân đối với Nhà nước, với xã hội, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, các đoàn thể có năng lực tự chủ, tự quản. Rõ ràng, văn hoá chính trị thể hiện vai trò của nó như một động lực văn hoá để thúc đẩy công cuộc đổi mới đòi hỏi phải làm cho các giá trị, nhu cầu, các chuẩn mực của văn hoá thấm sâu vào tổ chức, thể chế, con người, các quan hệ xã hội, các ứng xử theo cách dân chủ. Dân chủ trong chính trị, đạo đức trong chính trị là quan trọng nhất, nó bảo đảm cho đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc và tiến tới đồng thuận xã hội. Gương mẫu của đảng viên, cán bộ, công chức là nét tỏ rõ văn hoá chính trị có sức thu hút và thúc đẩy quần chúng một cách hữu hiệu nhất. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng phát động thực chất là một cuộc vận động thực hành dân chủ, giáo dục đạo đức và văn hoá.

Những bước tiến thực tiễn của đổi mới hệ thống chính trị, những thành tựu mà nhân dân ta thu được trong đổi mới kinh tế và phát triển xã hội có phần đóng góp rất quan trọng của văn hoá chính trị. Tác động của dân chủ - đoàn kết - đồng thuận với đổi mới cũng như đổi mới đã thúc đẩy dân chủ - đoàn kết - đồng thuận là sự tỏ rõ vai trò của chính trị và văn hoá chính trị trong đổi mới và phát triển ở nước ta.

Nhân tố động lực của văn hoá còn thể hiện rất rõ trong văn hoá đạo đức, trong thực hành đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là vấn đề hệ trọng của Đảng cầm quyền, của Nhà nước dân chủ - pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Đây cũng là bảo đảm đạo đức cho sự phát triển kinh tế thị trường, cho sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, sự bền vững của chế độ, giữ vững niềm tin của quần chúng. Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là quan điểm, nguyên tắc chiến lược chính trị mà còn là văn hoá, là đạo lý, đạo nghĩa sâu xa của dân tộc ta, là sự tập trung và quy tụ sức mạnh của lòng dân tạo nên sự bền vững của chế độ.

Việc giáo dục đạo đức, xây dựng văn hoá đạo đức trong chiến lược xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời thực tiễn hoá nó trong đời sống (vận dụng, thực hành) trong những năm đổi mới vừa qua đã đóng góp quan trọng vào ổn định - đổi mới và phát triển nước ta.

Các giá trị đạo đức truyền thống như yêu nước, thương người, đoàn kết cộng đồng, vị tha, nhân ái, khoan dung được duy trì trong các thế hệ người Việt Nam, được nuôi dưỡng qua giáo dục thế hệ trẻ. Đó là một bảo đảm quan trọng về đạo đức và xã hội đạo đức khi đi vào kinh tế thị trường. Nó giữ cho các quan hệ xã hội không bị tha hoá, không bị biến dạng, bào mòn bởi sức mạnh của tiền bạc, cạnh tranh và cả sự trỗi dậy của những bản năng phi nhân tính.

Dù trên lĩnh vực rất phức tạp này, xã hội trong bước chuyển đổi của mô hình và cơ chế cũng vấp phải không ít những tình huống đạo đức, những vấn nạn trên con đường phát triển nhưng rõ ràng tác nhân đạo đức và văn hoá đạo đức truyền thống như một động lực phát triển là không thể phủ nhận. Mặt khác, đổi mới và vai trò của đạo đức, giáo dục đạo đức trong gia đình, nhà trường và xã hội cũng góp phần chủ động tạo nên những giá trị mới, những chuẩn mực và thước đo đánh giá đạo đức mới, những mẫu nhân cách mới trong xã hội, ứng với các giai tầng xã hội, nghề nghiệp, vị thế, thế hệ, trong đó có thế hệ trẻ, họ là sản phẩm của Đổi mới. Những nhân tố mới đó, nhất là những gương điển hình (cá nhân, tập thể, cộng đồng) đã thực sự tạo ra động lực kích thích sự hướng thiện, đấu tranh cho công lý và đạo lý, cho sự tạo lập môi trường văn hoá đạo đức tốt đẹp để đào tạo, giáo dục con người.

Một lĩnh vực rất đặc thù, đó là văn hoá nghệ thuật, sáng tác và biểu diễn với sức mạnh lôi cuốn của nó, đặc biệt là tính thẩm mỹ, cảm xúc thẩm mỹ với sự phong phú của các thể loại, các hình thức sáng tạo độc đáo đi liền với tài năng và phẩm cách của người sáng tạo (các văn nghệ sĩ) cũng đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển văn hoá tinh thần, xây dựng đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng sống cho con người và cộng đồng dân tộc, đã góp phần quảng bá văn hoá Việt Nam trong cộng đồng bạn bè quốc tế, thúc đẩy các hoạt động giao lưu tiếp xúc đối thoại giữa các nền văn hoá, thực hiện tiếp biến để phát triển văn hoá Việt Nam hiện đại.

3. Tiếp tục phát huy vai trò động lực của văn hoá trong tình hình mới

- Trước hết, cần phải khắc phục những yếu kém, bất cập trong một số lĩnh vực của đời sống văn hoá, bảo đảm cho xã hội giảm thiểu và tiến dần tới chỗ xoá bỏ được những tổn thương trong phát triển. Đó là khu vực đời sống gia đình, giáo dục văn hoá gia đình, nơi đang tiềm ẩn và tích tụ không ít tình huống suy thoái, những mâu thuẫn, những rạn vỡ trong quan hệ đạo đức, giá trị và chuẩn mực trong ứng xử, trong các quan hệ, trong kỷ cương trật tự, trong nền nếp đạo đức. Đó còn là văn hoá nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Cần phải xây dựng và giáo dục thực hành lý tưởng nghề nghiệp, nghĩa vụ đạo đức, trách nhiệm công dân của người lao động. Nó gắn liền với văn hoá công sở, văn hoá công chức mà trên thực tế còn nhiều yếu kém. Văn hoá môi trường, văn hoá giao thông, văn hoá sinh hoạt nơi công cộng đang bộc lộ không ít những tình huống có vấn đề, mà nổi bật là ý thức pháp luật, tôn trọng các quy phạm xã hội và sự điều chỉnh hành vi con người trong hoạt động.

- Về mặt lý luận, cần đầu tư cho những nghiên cứu lớn trọng điểm nhằm tạo ra những đột phá, những bứt phá lý luận để thúc đẩy phát triển. Một trong những lĩnh vực đó là nghiên cứu lý luận hệ tư tưởng, đổi mới hệ thống chính trị, đặc biệt là lý luận Đảng cầm quyền và xây dựng Đảng cầm quyền.

- Văn học nghệ thuật cần tạo được những bước phát triển mới, tạo ra những tài năng và tác phẩm mang tầm vóc dân tộc và thời đại. Đây là vấn đề nuôi dưỡng, phát triển nguồn trữ năng tinh thần Việt Nam cho các thế hệ mai sau.

- Giải quyết trong thực tiễn mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá, sớm chăm lo phát triển đúng hướng ngành công nghiệp văn hoá của Việt Nam./.

 

Theo TCCS

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác