Gia Lai giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Gia Lai có 34 dân tộc anh em sinh sống, trong quá trình phát triển đã hình thành nên bản sắc văn hoá độc đáo, cho tới nay vẫn còn nguyên sơ, ít bị pha tạp. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu kế thừa và phát triển bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng để tạo sự thống nhất trong đa dạng góp phần phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là yêu cầu hết sức cần thiết trước tình hình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.

Ảnh minh họaẢnh minh họa

Ý thức tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về văn hoá, Đảng bộ Gia Lai luôn chăm lo sự nghiệp phát triển văn hoá, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị số 27 của Bộ Chính trị, khóa VIII về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”. Quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện đã thu được những kết quả sau:

Tăng cường đầu tư cho lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá phi vật thể, Bảo tàng tỉnh Gia Lai đã sưu tầm được hàng ngàn hiện vật, bao gồm các loại: hiện vật khảo cổ học, hiện vật dân tộc học và hiện vật lịch sử địa phương.

Trong số này, có hàng trăm hiện vật có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học đã được trưng bày phục vụ đông đảo đồng bào trong tỉnh và khách thăm quan như: công cụ đá, bàn mài, gốm, đồ trang sức... của cư dân thời tiền sử; trống đồng An Thành; những di vật liên quan đến văn hoá Chăm-pa, đến hoạt động của phong trào Tây Sơn trên vùng Thượng đạo...Những hiện vật văn hoá dân tộc đã phản ánh cuộc sống của cư dân sống lâu đời trên cao nguyên và cả những hình ảnh, hiện vật về cuộc đấu tranh của nhân dân Gia Lai dưới sự lãnh đạo của Đảng chống thực dân, đế quốc, vì độc lập, tự do của dân tộc.

Việc điều tra, phát hiện và lập hồ sơ khoa học các di tích lịch sử cũng được quan tâm đúng mức. Đến nay, Gia Lai đã có hơn 40 di chỉ khảo cổ học được phát hiện, trong đó, có 5 di chỉ quan trọng là: Biển Hồ, Trà Dom và Thôn 7 (thị trấn Chưprông), Taipêr, Plei Rngol. Di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh cũng là một thế mạnh của Gia Lai. Đến nay toàn tỉnh có 12 di tích và cụm di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thông tin và Du lịch) cấp bằng công nhận. Từ những di tích lịch sử cổ - trung đại như Plei Ơi (làng của Ptao Apui-thường được dịch là “Vua lửa”); Lũy An Khê, An Khê trường, kho tiền Boók Nhạc (những di tích về tụ nghĩa của anh em Tây Sơn trên đất Thượng đạo), cho đến những di tích cách mạng kháng chiến như: Làng kháng chiến Sitơr, chiến thắng Đăk Pơ, Chiến thắng đường 7-Sông Bờ, chiến thắng PleiMe...đã phản ánh khá rõ nét tiến trình lịch sử cũng như cảnh quan thiên nhiên của địa phương. Hiện nay, khá nhiều điểm đã được khai thác du lịch thu hút đông đảo khách tham quan như: Biển Hồ, quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo...

Mặt khác, thông qua Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, các phong trào như xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá, mô hình “Làng thanh niên”, mô hình “Điểm sáng văn hoá vùng biên”...đã góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc trên địa bàn tỉnh, nhất là của dân tộc Jrai và Bahnar. Thông qua tổ chức các hội thi văn hoá - nghệ thuật quần chúng, hội thi văn hoá - nghệ thuật các dân tộc thiểu số của tỉnh, xây dựng nhà rông văn hoá với nhiều chức năng, xây dựng nhà rông truyền thống; phục hồi và duy trì hoạt động của các đội văn nghệ quần chúng, các đội cồng, chiêng ở các buôn, làng mà nòng cốt là các nghệ nhân và lực lượng thanh, thiếu niên, đã góp phần khai thác được tính cộng đồng, nhu cầu tham gia các hoạt động lễ hội của nhân dân, của tuổi trẻ, ngăn chặn được nạn “chảy máu” cồng, chiêng (mà có thời kỳ từng bị bán giá rẻ hàng loạt) và thật tự hào tháng 11- 2005 UNESCO đã công nhận cồng, chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu, di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Trong đó, Gia Lai đã có những đóng góp quan trong trong việc sưu tầm, cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu... để lập hồ sơ đề nghị công nhận. Đây là niềm tự hào của cả nước nói chung và Gia Lai nói riêng.

Các lễ hội truyền thống, các làn điệu dân ca, phục hồi và duy trì nghề dệt thổ cẩm, điêu khắc, đan lát, nhạc khí...cũng được quan tâm đầu tư và thu được những kết quả rất khả quan. Việc phục hồi luật tục Jrai, Bahnar cùng với pháp luật của Nhà nước góp phần xây dựng quy ước, hương ước ở các buôn, làng có tác dụng thiết thực, góp phần thực hiện dân chủ và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở theo chủ trương của Đảng, Nhà nước. Đặc biệt việc tái bản 2 cuốn Từ điển Việt – Jrai và từ điển Việt - Bahnar là cơ sở khoa học để xây dựng giáo trình dạy song ngữ. Việc tăng cường thời lượng phát sóng truyền thanh - truyền hình bằng tiếng địa phương, xuất bản Báo ảnh Gia Lai là hướng đi đúng cần phát huy.

Về văn học nghệ thuật dân gian, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố như: Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam (2 tập), Truyện cổ Gia Lai-Kon Tum, 02 tập Truyện cổ các dân tộc Trường sơn - Tây Nguyên, Truyện cổ Jrai...Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu sưu tầm văn hoá dân gian Gia Lai đạt những thành tựu rất đáng khích lệ với việc xuất bản: 3 Sử thi Bahnar, 1 tập thơ Bahnar, 2 tập dân ca... Lĩnh vực múa dân gian là mảnh đất màu mỡ cung cấp chất liệu cho các nghệ sỹ khai thác và phát triển để làm nên các tác phẩm múa ấn tượng, gặt hái nhiều thành công rực rỡ trong những lần tham gia liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp khu vực và toàn quốc.

Phong tục, tập quán, lối sống, nếp sống, nghề thủ công... của cư dân lâu đời ở Gia Lai cũng là vấn đề được các nhà khoa học Trung ương và địa phương quan tâm. Thời gian qua, đã xuất bản được những ấn phẩm mang ý nghĩa lịch sử to lớn như: Các dân tộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum (Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1981), Nhà mồ và Tượng mồ Bắc Tây Nguyên (1990), Nhà Rông các dân tộc Bắc Tây Nguyên (1991), Hôn nhân và gia đình truyền thống của các dân tộc Trường sơn - Tây Nguyên (1994), Lễ bỏ mả Bắc Tây Nguyên (1995), Văn hoá cổ truyền Tây Nguyên xuất bản năm 1996, và gần đây là công trình Lễ trưởng thành của người Bahnar do Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa - Thông tin và Du lịch) thực hiện đã được đánh giá cao.

Những kết quả trên khẳng định: việc xây dựng và gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn Gia Lai đã có nhiều tiến bộ và đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mặt khác, quá trình đổi mới và hội nhập cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa giữa các nền văn hóa, giúp cho văn hoá của mỗi dân tộc vừa giữ được bản sắc riêng vừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác, của nhân loại, thông qua các hoạt động giao lưu văn hoá của các địa phương, của khu vực, của quốc gia và giao lưu văn hoá quốc tế.

Để tiếp tục xây dựng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện đổi mới và hội nhập, trong những năm tới, trên địa bàn tỉnh Gia Lai cần tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:

Một là, tập trung xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ý thức cộng đồng, ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng, một lòng một dạ đi theo Đảng, Bác Hồ kính yêu. Kiên quyết đấu tranh xoá bỏ tư tưởng ly khai đang tồn tại trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số.

Hai là, tiếp tục triển khai tốt Nghị quyết Trung ương V, khoá VIII và Kết luận Hội nghị Trung ương 10, khoá IX về “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị, khoá X và chương trình thực hiện Nghị quyết số 23 của Đảng bộ về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong tình hình mới”. Trong đó, các nội dung cần tập trung là:

Đẩy mạnh và đưa Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đi vào chiều sâu, coi trọng chất lượng, chú ý phát huy cao độ vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên.

Trên lĩnh vực văn học nghệ thuật: Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục đội ngũ văn nghệ sỹ thực sự là những chiến sỹ tiên phong trên mặt trận tư tưởng văn hoá, tăng cường đầu tư, hỗ trợ sáng tác để có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật cao, qua đó góp phần định hướng tư tưởng, đạo đức, lối sống, tích cực thông qua các loại hình nghệ thuật để cảnh báo và kiên quyết đấu tranh, phê phán các tiêu cực xã hội. Chú trọng các tác phẩm viết về con người mới, nhân tố mới, điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực”.

Về văn học nghệ thuật dân gian tập trung nghiên cứu sâu các lễ hội truyền thống của các dân tộc trên địa bàn tỉnh, kể cả các dân tộc di cư từ nơi khác đến, qua đó có cách hiểu sâu sắc, toàn diện về đời sống văn hoá tinh thần của các dân tộc trên địa bàn tỉnh, đồng thời phát triển các lễ hội trở thành những hoạt động văn hoá lành mạnh, đậm đà bản sắc, đáp ứng yêu cầu của cộng đồng dân cư. Hằng năm, vào dịp đầu Xuân nên tổ chức các Hội làng kết hợp tổ chức Lễ hội văn hoá truyền thống với các hoạt động vui chơi giải trí, ẩm thực dân tộc.

Tập trung nghiên cứu, biên soạn thành sách những thành ngữ, câu đố, chuyện dân gian, những làn điệu dân ca, hát kể..., đặc biệt là hát kể (kể khan). Duy trì và phát triển công tác này là một việc rất khó và nếu ngay bây giờ ta không nghiên cứu, không đầu tư phát triển thì nó sẽ mất đi. Nên chăng, ngoài việc ghi âm, chép lại nội dung của các lời hát kể, cần đi sâu nghiên cứu phương pháp, kinh nghiệm và những yếu tố tác động giúp người hát kể thực hiện được việc hát kể sinh động và có sức cuốn hút kỳ lạ của họ. Có thể tổ chức thi kể hát, tổ chức việc truyền dạy cách kể hát, chắc chắn qua đó chúng ta sẽ phát hiện được nhiều điều mới lạ, phát hiện thêm được những nhân vật mà sau này họ sẽ trở thành những nghệ nhân.

Duy trì và phát huy tác dụng của nhà Rông và văn hoá cồng chiêng: phát triển nhà Rông phải bảo đảm nhu cầu, nguyện vọng của dân làng, không nên áp đặt chủ quan, nên để cho dân quyết định làm ở vị trí nào, làm như thế nào để nhà Rông gần gũi với đời sống của dân làng, vừa giữ được nét truyền thống, sự linh thiêng giống như ngôi đình của Người Việt, thấy được cái hồn thiêng của nhà Rông, phải chăng ở đó có sự cư ngụ của tổ tiên, dòng họ, có hồn đất, hồn nước...và vừa có các yếu tố hiện đại để phục vụ sinh hoạt, học tập của dân làng. Duy trì và phát triển văn hoá cồng, chiêng, các làn điệu múa xoan và múa dân gian, hát dân ca. Hàng năm nên tổ chức các Hội thi văn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số ở cơ sở, cấp huyện 2-3 năm một lần; cấp tỉnh, khu vực và toàn quốc 5 năm một lần. Tổ chức các lớp truyền nghề chỉnh âm Cồng Chiêng, các lớp học đánh cồng, chiêng, múa xoan theo các làn điệu một cách bài bản. Các trường văn hoá nghệ thuật của tỉnh, của trung ương nên có các giáo trình cơ bản về các lớp học đó để giảng dạy cho học viên cũng như phổ biến rộng trong cộng đồng.

Ba là, cần bổ sung, hoàn thiện giáo trình song ngữ Việt-Jrai, Việt-Bahnar. Tiếp tục đầu tư mở các lớp dạy tiếng Jrai, Bahnar cho đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng; làm tốt công tác dịch thuật các tài liệu tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nên tập trung nghiên cứu sưu tầm các từ mới phát sinh từ cộng đồng buôn làng, trong từng thời kỳ phát triển. Có thể phân ra các thời kỳ như: trước năm 1945, từ 1945 đến 1975, từ 1975 đến 1986 và từ 1986 đến nay. Qua đó, chúng ta có thể thấy được sự phát triển vốn từ hoặc sự du nhập những thuật ngữ mới để trở thành vốn từ và tốc độ phát triển vốn từ của người Jrai, Bahnar. Nghiên cứu dịch thuật các thuật ngữ mới trong quá trình đổi mới và hội nhập, tỉnh và Viện Nghiên cứu văn hoá cần phối hợp để thực hiện đề tài: phát triển vốn từ của người Jrai, Bahnar ở Gia Lai.

Bốn là, để tăng cường sự giao lưu giữa các nền văn hoá, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quan tâm đầu tư và phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên tổ chức các hoạt động văn hoá các dân tộc ở cả tầm khu vực, quốc gia và quốc tế, nhất là Fetivan cồng chiêng quốc tế và các hoạt động giao lưu văn hoá trong khu tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia./.

 

Hà Lâm ( Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác