Giỗ tổ Hùng Vương: Di sản lớn lao, quý báu, trường tồn

Kinh đô của đời vua cuối cùng Thời đại dựng nước (An Dương Vương Thục Phán) là Cổ Loa - một địa bàn lõi đối ngạn qua sông Hồng với thành Ðại La xưa - nội thành Hà Nội nay. Chính việc chọn Cổ Loa ở trung tâm vùng lúa nước trù phú, với thế núi sông - phong thủy - dân cư đều đẹp, làm đất đóng đô, đã cho thấy cả thế nước mở mang lẫn bước tiến lớn về tư duy chính trị, tư duy "quản lý vĩ mô" của An Dương Vương Thục Phán. Hơn 10 thế kỷ sau, Ngô Vương Quyền không xa lạ gì với thành Ðại La, nhưng vẫn kế thừa sự lựa chọn của An Dương Vương, cũng đóng đô tại thành ốc Cổ Loa.

Giỗ tổ Hùng Vương: Di sản lớn lao, quý báu, trường tồn - ảnh 1

Từ kinh đô Phong Châu đến kinh đô Cổ Loa, Tổ tiên chúng ta đã phải trải qua có dễ cả thiên niên kỷ chinh phục thiên nhiên giàu có tiềm năng nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt, và lắm phen phải gươm giáo đánh thắng xâm lăng. Có nghĩa là trải hàng nghìn năm, hàng vạn thế hệ Tổ tiên chúng ta mồ hôi nước mắt sáng tạo, đắp bồi bền bỉ trong tai ương bão lũ và giặc dã, bắt đầu từ mài gọt rìu đá, trồng cây có củ, bầu bí... trên gò đồi đến định cư trong các làng đồng bằng, mở xưởng đúc đồ đồng tinh xảo và đúc, rèn đồ sắt, ăn cơm gạo trắng, cá kho, thịt gà nuôi thả vườn, mặc quần áo sợi dệt, và mở hội mùa náo nhiệt...

 

Thành Cổ Loa của An Dương Vương thất thủ năm 279 trước Công nguyên. Nhưng di sản kỳ vĩ, quý giá của Thời dựng nước truyền lại cho giống nòi Hồng Lạc mà đại diện thừa kế lúc bấy giờ là chưa đầy một triệu cư dân, thì trường tồn vĩnh cửu .

 

Ðó là một cương vực vốn là thiên nhiên hoang sơ, dữ dội, nhờ được khai phá để sinh tồn, sáng tạo mà thành môi trường sinh thái-nhân văn Lạc Việt, từ cực bắc đến Ðèo Ngang và có thể còn xa hơn nữa.

 

Là một xã hội đã bước vào thời đại văn minh với nhà nước ra đời, nhưng không khí xã hội vẫn hồn nhiên, hòa hợp. Vua cùng các Lạc hầu, Lạc tướng là những người giỏi giang nhất bộ lạc do dân suy tôn để dẫn dắt dân làm ăn sinh sống, chống thú dữ và giặc dã. Các Vua Hùng ngày thường vẫn đóng khố, cởi trần, dạy dân cày ruộng, săn thú; chơi đu, đấu vật và tắm suối với trai làng, nếm mật mía dân gian mà khen ngon miệng... Các công chúa thì dạy dân làm sợi, dệt vải, nấu xôi, làm bánh. Không thấy cả bóng dáng nô tỳ, nô lệ cũng như áp chế của đàn ông đối với đàn bà, trong cả một biển huyền thoại, truyện cổ, sử thi, hay trên hình chạm khắc trên các chủng loại phong phú đồ đồng cũng như tượng gốm, tượng đồng; mọi cư dân các làng xã đều là công dân, giặc đến thành chiến sĩ. Một thời đại văn minh với nhà nước cai quản, tổ chức và điều hành; trên dưới hòa đồng để làm ăn, mở mang và giữ gìn cương vực sinh tồn, gian lao vô kể mà xã hội yên bình, sôi nổi,  vui tươi. Người thời sau có thể đọc thấy trên mặt trống đồng Ngọc Lũ như một Tuyên ngôn Lạc Việt .

 

Trong xã hội ấy, người mẹ được tôn sùng, như huyền thoại Mẹ Âu Cơ, Mẹ Dóng. Còn tư duy tín ngưỡng thì dần dà đồng nhất Mẹ với các sức mạnh thiên nhiên liên quan đến mùa màng sinh sôi mà nên tục thờ Mẫu từ rất sớm (đất-Mẫu Thượng Ngàn hay Mẫu Ðịa; nước-Mẫu Thủy-Thoải, mây mưa sấm chớp-Mẫu Thượng Thiên). Cho nên về sau, khi va đập với kiểu thống trị nhà nước xa lạ, thì những người nổi dậy đầu tiên chính là phụ nữ được tôn sùng mà thiên tính là yêu thương và che chở-Hai Bà Trưng, Bà Triệu, còn trai tráng thì cải dạng nữ nhi để đầu quân, làm tướng. Về sau nữa, khi đã giành lại được chủ quyền,  Khúc Thừa Dụ thực hành ngay một nền chính trị "khoan dung giản dị", cốt sao "Trăm dân đều được yên vui ". Các triều đại về sau ở Kỷ nguyên Ðại Việt tiếp nối, hầu như lấy cái gốc nhân văn, gần dân, thương dân, dựa vào dân, làm tư tưởng chính trị và "thượng sách để giữ nước". Di sản ấy của Thời dựng nước, một thứ di sản tinh thần-tâm thức-tâm linh riêng có của Lạc Việt-Việt Nam ta.

 

Một di sản - thực thể độc đáo, sản phẩm của văn minh nông nghiệp lúa nước trong hoàn cảnh sinh tồn riêng của cộng đồng Lạc Việt, có sức mạnh hầu như là quyết định trường tồn và phát triển của xứ sở chúng ta, ít ra trên cả hành trình dài trước thời công nghiệp hóa và đô thị hóa - đó là Làng xã. Thực thể làng, như là sự khẳng định tự nhiên và thường nhật chủ quyền dân tộc và quyền sống con người, kết tụ cả sức chống trả cao trước gươm giáo xâm lăng lẫn sức đề kháng cao trước văn hóa ngoại lai. Làng tượng trưng cho bền vững văn hóa và lối sống Lạc

 

Việt-Việt Nam. Làng tượng trưng cho sự trường tồn dân tộc. Làng là kho tàng hầu như vô tận sức người, sức của. Làng từ thuở ấy, trải cả nghìn năm bị đô hộ và đồng hóa, cứ mở cổng làng tiếp nhận giống lúa mới, cây trái ngon, kỹ thuật thâm canh, học chữ tượng hình để học hỏi kho tàng văn hóa Trung Hoa..., mà vẫn nấu nung ý chí độc lập quật cường, vẫn nói tiếng ông cha, thờ Tổ tiên và Thánh Mẫu, mở hội làng, bơi chải và đấu vật

 

Chính từ bên trong đời sống hòa đồng, xiết bao bình dị và vui tươi  thời Văn Lang - Âu Lạc, là nhân lõi, là bản sắc văn hóa Việt kết tinh trong mọi sản phẩm vật thể và phi vật thể và trong chính con người Lạc Việt sáng tạo ra văn hóa ấy. Bản sắc ấy là di sản lớn lao nhất mà thời đại dựng nước để lại cho muôn đời con cháu.

 

Chúng ta nhận ra và thế giới cũng thừa nhận người Việt Nam có các phẩm hạnh bản chất: dũng cảm, thông minh, cần cù, sáng tạo. Tuy nhiên, xem ra đó cũng là các tố chất phổ quát nhân loại, dân tộc nào, cộng đồng nào cũng thế. Còn như bản sắc, nghĩa là bản chất riêng, đặc sắc, hay thứ phẩm chất đặc sắc làm nên nét riêng nổi trội của con người Việt Nam định hình ở Thời dựng nước và tiếp tục được đắp bồi trong trường kỳ lịch sử đến ngày nay, thì suy ngẫm và so sánh, có thể nhận ra: Ðó là khả năng thích ứng dẻo bền vô hạn trước mọi tai họa thiên nhiên cũng như mọi biến thiên, bão táp và bi kịch lịch sử cả do đến từ mọi phía lẫn do nội sinh, để trường tồn và phát triển.

 

Lại nghìn năm sau kể từ họ Khúc tái lập nền tự chủ quốc gia, dân tộc chúng ta từng chịu nhiều hiểm họa, vận nước bi đát, thân phận cộng đồng hầu như trứng treo trên đá. Những thập kỷ dưới ách đô hộ tàn bạo và hủy diệt văn hóa của nhà Minh. Hai thế kỷ Trịnh-Nguyễn phân tranh, xương phơi đầy nội, đất nước kiệt quệ, dân các làng chết đói và phiêu dạt, xứ sở như miếng mồi thơm trước thế lực xâm lăng. Ðêm trường hơn trăm năm dưới ách thống trị nghiệt ngã và bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp. Những ngày tháng hiểm nghèo, Nhà nước của nhân dân còn non trẻ chênh vênh trước cả giặc đói, giặc dốt và nguy hiểm nhất là giặc ngoại xâm năm 1946. Chiến tranh hủy diệt bởi quân đội và bom đạn đế quốc Mỹ, đỉnh cao là bom B52 (tháng 12-1972, khi ấy tình hình quốc tế lại có diễn biến bất lợi cho chúng ta), bom B52 trút xuống nội thành Thủ đô Hà Nội liên tục trong 12 ngày đêm hòng ném chúng ta về thời đồ đá; quân dân ta đánh trả quyết liệt và đã chiến thắng vẻ vang! Những tháng ngày đói kém, thiếu thốn cùng cực ngay trong sinh tồn thường nhật, lòng người thì u uất, vào đêm trước thời đổi mới. Chính là nhờ khát vọng sống còn, nhờ sức mạnh ẩn trong dẻo bền vô hạn , mà cộng đồng không gục ngã, trái lại, bi đát đến cực điểm thì trí lực chớp sáng, sức lực tiềm ẩn vùng lên, đã thoát hiểm một cách thần kỳ...

 

Nay Giỗ Tổ Hùng Vương là Quốc giỗ. Con cháu giữ gìn, tôn tạo đền miếu cũ và xây thêm hai ngôi đền mới nguy nga trên núi Hùng để thờ Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân. Gần 86 triệu cháu con trên xứ sở và sinh sống ở mọi nơi trên trái đất hướng về nguồn cội. Hàng chục vạn cháu con đổ về Ðền Hùng dâng hương và vui hội. Tổ tiên linh thiêng hẳn cũng hài lòng. Nhưng hẳn là các Vua Hùng, các bậc tiên hiền, tiên liệt, các thế hệ anh hùng chiến trận, liệt sĩ, anh hùng văn hóa, các thế hệ ông cha, và cả các thế hệ cháu con còn chưa sinh, kỳ vọng và đòi hỏi chúng ta nhiều hơn thế. Hãy giữ cho trong lành mãi mãi và khơi rộng dòng cho tuôn chảy ngọn nguồn từ xa xưa yêu xứ sở với tất cả đất đai, tài nguyên, muông thú, cỏ cây; cố kết cộng đồng, lòng thương người rộng mở, trên dưới hòa ái, hòa đồng. Bản tính dẻo bền vô hạn sẽ là sức mạnh đua tranh toàn cầu thời hiện đại nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức và tai ương bất chợt, khi bay trên đôi cánh lớn của khát vọng, năng lực trí tuệ và kỹ năng hiện đại, làm rạng rỡ giang sơn, gấm vóc Việt  Nam.

Theo Nhân dân

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác