Giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc ít người

Đời sống kinh tế - xã hội biến đổi và còn khó khăn khiến bản sắc văn hóa của các dân tộc ít người bị mai một nhanh chóng, thậm chí có dân tộc hiện nay ít tìm được nét văn hóa đặc trưng. Thực trạng này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có biện pháp kịp thời để bảo tồn văn hóa các dân tộc ít người.

Giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc ít người - ảnh 1

Thực trạng báo động

Ở Việt Nam hiện có 11 dân tộc có số dân dưới 5.000 người và 6 dân tộc số dân dưới 10.000 người. Các dân tộc này đều có đặc điểm chung là bản sắc văn hóa bị mai một nghiêm trọng. Ngôn ngữ là một trong những tiêu chí quan trọng và là thành tố cơ bản để xác định thành phần tộc người, nhưng hiện nay nhiều dân tộc không còn dùng tiếng mẹ đẻ. Ví như người Bố Y có gần 2.300 người và được chia làm 2 nhóm địa phương là Tu Dí (Lào Cai) và Bố Y (Hà Giang). Người Tu Dí ở Lào Cai đã không còn nhớ tiếng mẹ đẻ và chuyển sang nói tiếng Quan Hỏa (tiếng Hán phương Nam), còn người Bố Y ở Hà Giang lại dùng tiếng Giáy và tiếng Tày làm ngôn ngữ giao tiếp. Người Phù Lá có hơn 10.900 người, cũng chia thành hai ngành Pu Là và Xa Phó. Người Xa Phó còn giữ được tiếng mẹ đẻ, nhưng gần 5.000 người Pu Là đã chuyển sang sử dụng tiếng Quan Hỏa. Việc không còn nói được tiếng mẹ đẻ cũng diễn ra với người Cờ Lao đỏ ở Hà Giang. Các dân tộc ở khu vực Tây Bắc như Kháng, La Ha, Xinh Mun… chủ yếu sử dụng ngôn ngữ Thái trong giao tiếp. Ngôn ngữ mẹ đẻ của dân tộc La Ha chỉ còn một số từ cơ bản trong các bài cúng cổ. Việc không còn dùng tiếng mẹ đẻ không chỉ xảy ra trong giao tiếp mà ngay các bài hát dân ca của người Kháng, người Xinh Mun thì tiếng Thái cũng chiếm 70 - 80%.

Bên cạnh ngôn ngữ, các thành tố văn hóa khác như trang phục, kiến trúc, phong tục tập quán, lễ hội… của các dân tộc này cũng bị mai một nghiêm trọng. Người Kháng, La Ha, Xinh Mun, Mảng đang bị người Thái chi phối về văn hóa vật chất. Vì thế, để phân biệt nhà sàn của người Kháng, người La Ha với nhà sàn của người Thái ở vùng Tây Bắc thì chỉ có các nhà dân tộc học, hoặc những người am hiểu sâu sắc về văn hóa của các tộc người này mới nhận biết được. Do ảnh hưởng của người Thái, kết hợp với ảnh hưởng của người Kinh, nên một số di sản văn hóa còn sót lại của các dân tộc ít người đang tiếp tục bị bào mòn. Ngoài ra, ở vùng biên giới Việt - Trung, yếu tố “Hán hóa” cũng thâm nhập vào các bản làng của người Phù Lá, Bố Y, Cờ Lao, Pu Péo. Đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống thông tin thì di sản văn hóa của các dân tộc này đang biến mất nhanh chóng. Khoảng 20 năm trước, người Kháng (Than Uyên) vẫn còn hát tiếng mẹ đẻ, nhưng hiện nay hầu hết lớp trẻ đều chỉ hát bằng tiếng Thái. Trong sinh hoạt văn hóa, các dân tộc như người Mảng, Hà Nhì, người Pù Lá... đều có nhạc cụ cổ truyền đặc trưng riêng của mình, nhưng ngày nay còn rất ít.

Tôn trọng tính đặc thù

Văn hóa truyền thống là tài sản quý giá, là niềm tự hào cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Để giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ít người không bị mai một, theo Giám đốc Sở VH, TT và DL Lào Cai Trần Hữu Sơn, các cơ quan chức năng, đặc biệt là ngành văn hóa cần nhận thức rõ đây là vấn đề quan trọng của địa phương, của ngành. Và trong quá trình thực hiện, tránh áp đặt từ trên xuống, hay nhầm lẫn giữa phong tục, tập quán đặc sắc của các dân tộc với hủ tục, lạc hậu. Bởi văn hóa của mỗi dân tộc có những đặc thù riêng, nếu không nhận thức, phân biệt rõ sẽ làm đứt đoạn và xói mòn văn hóa truyền thống của các dân tộc ít người. Ngoài ra, xây dựng đời sống văn hóa ở mỗi dân tộc phải do người dân quyết định và định hướng, không áp đặt, duy ý chí.

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện cần kết hợp đồng bộ từ các ngành, các cấp, tổng kiểm kê, sưu tầm toàn bộ di sản văn hóa từng có trước đây. Việc sưu tầm này cần triển khai với nhiều phương thức khác nhau như ghi hình, ghi âm, sưu tầm hiện vật bảo tàng, các loại hình di sản văn hóa dân gian, trong đó coi trọng cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, từ công cụ sản xuất đến công cụ tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là sưu tầm cả các từ ngữ cơ bản còn sót lại của hệ thống ngôn ngữ mỗi tộc người.

Một yếu tố quan trọng trong bảo tồn giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc ít người là phải để những di sản này tồn tại và sống trong cộng đồng, chứ không chỉ dừng lại trong bảo tàng hay phòng trưng bày. Do đó, trong bảo tồn cần có biện pháp khuyến khích những người hiểu biết về văn hóa trao truyền và tuyên truyền cho thế hệ trẻ tiếp thu các di sản văn hóa của dân tộc mình. Ngoài ra, cần có chế độ ưu đãi đối với nghệ nhân ưu tú và nghệ nhân nhân dân các dân tộc; khuyến khích sử dụng và bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ, quy định về trang phục, sử dụng âm nhạc, kiến trúc đối với các dân tộc ít người; xây dựng các mô hình phục dựng, bảo tồn có hiệu quả; công bố, phổ biến các di sản văn hóa của các dân tộc có nguy cơ bị mai một như khuyến khích việc sưu tầm, xuất bản, làm phim...

Theo ĐBND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác