Hát Xẩm- nét văn hóa Hà thành

(Cinet)-Những loại hình văn hóa dân gian như hát xẩm không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa về mặt văn hóa, mà lớn lao hơn, những tác phẩm ấy chính là sự thể hiện rõ nét của đời sống, là biểu hiện của tư tưởng, của tâm hồn cha ông ta. Đó chính là một phần của nguồn cội.

Hát Xẩm- nét văn hóa Hà thành - ảnh 1

Cho tới nay vẫn chưa có bất cứ một tài liệu nào ghi lại đích xác địa điểm và thời điểm ra đời của loại hình nghệ thuật này, chỉ thấy nhân dân từ nhiều đời nay đã truyền tụng câu chuyện về nguồn gốc của xẩm với ông tổ nghề là Trần Quốc Đĩnh. Tương truyền vào khoảng thế kỷ thứ XIII, vua Trần Thánh Tông có hai người con là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Toán là anh nhưng lười học, tính tình ngang bướng, đố kỵ, luôn ghen ghét với người em tên Đĩnh chăm chỉ, nhân hậu, tài hoa. Toán rắp tâm hãm hại em trai, làm mù hai mắt, rồi vút lại giữa rừng sâu. Trong cảnh mù lòa, đói khổ, buồn bã, Đĩnh chỉ biết khóc và giãi bày nỗi buồn qua lời hát. Thương cảm trước hoàn cảnh của chàng, Bụt đã hiện lên và dạy cho Đĩnh cách làm một cây đàn từ những sợi dây rừng, rồi dùng que gảy lên (đây chính là hình ảnh tiền thân của cây đàn Bầu ngày nay). Có thêm tiếng đàn, lời ca của Đĩnh càng trở nên tha thiết, chim muông trong rừng ngày ngày đến nghe chàng hát và mang hoa quả, thức ăn đến cho chàng. Một hôm, những người đi rừng về ghé ngang qua, nghe thấy tiếng hát liền tìm đón chàng trở về với dân làng. Từ đó, ngày ngày Đĩnh hát về những khó khăn, vất vả đời thường của người dân lao động, và cả những thói đời ganh ghét, thị phi. Tiếng hát quyến rũ của chàng trai khiếm thị ngày một vang xa, đến tận cung vua, nên đức vua đã cho mời chàng vào cung hát. Cha con gặp mặt, Đĩnh được trờ lại vời thân phận cao sang. Nhưng không quên những tháng ngày đói khổ, chàng Đĩnh xin vua cha trờ lại dân gian để truyền dạy cho những người khiếm thị kém may mắn nghề hát để làm kế sinh nhai. Và nghề hát xẩm vời cây đàn Bầu ra đời từ đó.

Loại hình âm nhạc chuyên nghiệp

Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu xẩm là lối hát của những người khiếm thị ăn xin, nhưng nói một cách chính xác hơn, thì những người khiếm thị đã sử dụng xẩm để làm phương tiện kiếm sống. Vì thế, hát xẩm thực sự là một loại hình âm nhạc chuyên nghiệp.

Từ đầu thế kỷ XIX trở về trước, xẩm gắn với những hoạt động của nhân dân ta trong những dịp nông nhàn. Sau vụ mùa bội thu, những gánh hát xẩm thường được mời về hát tại tư gia những gia đình giàu có, quyền quí. Sau đó, do những biến động của xã hội: loạn lạc, vụ mùa thất bát, sinh ra đói kém triền miên, nhiều người dân từ thôn quê phải bỏ đồng ruộng bôn ba lên chốn thành thị kiếm sống. Những gia đình nhà xẩm cũng không nằm ngoài qui luật đó. Họ tập trung nhau lại ở những nơi đông người như bến xe, ga tàu, bãi chợ... tạo thành các nhóm xẩm, gánh xẩm.

Thông thường, một nhóm xẩm chính là một gia đình xẩm, có bố, mẹ và các con. Tuy hoàn cảnh khốn khó nhưng những nghệ nhân hát xẩm luôn là những người có lòng tự trọng cao. Họ không than thân trách phận mà trái lại luôn lạc quan. Bên cạnh đó, họ tôn trọng nghề nghiệp của mình và coi đó là một công việc cao quí: “cái nghiệp cầm ca có ích cho đời, tay đàn miệng hát giúp đời mua vui...” (Trích bài xẩm “Đáng mặt anh hào”- thơ Tản Đà).

Cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời gian thịnh đạt nhất của loại hình nghệ thuật này. Không còn đơn thuần là loại hình giải trí lúc nông nhàn, xẩm đã phát triển thành một nghề để những người dân nghèo kiếm sống nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác. Xẩm thành thị ra đời, hối hả hơn, bóng bẩy hơn để phù hợp với cuộc sống nơi đây. Bên cạnh những điệu xẩm chính tông như Xẩm chợ, Xẩm xoan, Xẩm thập ân, Riềm huê, Chênh bong, Ba bậc, Phồn huê, Hò bốn mùa, nghệ nhân xẩm đã kết hợp, du nhập thêm các làn điệu từ những loại hình khác như Sa mạc, Bồng mạc, Trống quân, Hát giao duyên, Cò lả... Việc kết hợp như vậy vừa làm phong phú, làm “lụa” hơn cho những câu hát xẩm, nhưng ngược lại, “xẩm hóa” cũng đã góp phần phổ biến rộng rãi hơn cho các loại hình diễn xướng dân gian này.

Xẩm là một sản phẩm nghệ thuật của người dân lao động, vì thế tính chất âm nhạc cũng như lời ca hết sức mộc mạc, chân thành, nhưng không vì thế mà xẩm không chứa đựng bên trong nó những nội dung, tư tưởng sâu sắc. Lời ca trong hát xẩm không chỉ phong phú về mặt thể loại: từ ca dao, tục ngữ, truyện thơ dân gian, đến những bài thơ của các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính, Phan Bội Châu... mà còn rất đa dạng về mặt nội dung. Những ca từ của xẩm thường hàm chứa những triết lý, những lời răn dạy đạo lý ở đời. Xẩm đã có một vị thế quan trọng, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta.

Xẩm Hà Nội xưa & nay

Theo chân những tiểu thương về đất kinh kỳ, xẩm đã nhanh chóng thích nghi, và dần trở thành một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc trong lòng thủ đô. Để phục vụ được những đối tượng khán giả luôn tất bật, Xẩm Hà Nội đã thay đổi về cấu trúc cũng như tiết tấu: nhanh và gọn hơn. Biên chế dàn nhạc Xẩm Hà Nội cũng được gia tăng và mở rộng, rôm rả hơn để sánh cùng âm thanh náo nhiệt của đường phố. Nhưng không dừng lại đó, Xẩm Hà Nội thể hiện sự đặc biệt ở lời ca. Người Hà Nội am hiểu và có trình độ trong việc thưởng thức văn học. Họ yêu thích thơ ca, vì thế các gánh hát xẩm đã khéo léo lồng vào điệu hát xẩm những bài thơ của các thi sĩ trứ danh. Những Anh khóa, Cô hàng nước (của Á nam Trần Tuấn Khải), Giăng sáng vườn chè, Em đi tỉnh về (của Nguyễn Bính) đã được đông đảo quần chúng ưa thích, đặc biệt là các chị, các cô.

Còn vẹn nguyên ký ức về những chuyến tàu điện chạy trên đường phố Hà Nội, cùng với tiếng leng keng là tiếng hát, tiếng đàn da diết như trút lòng của vợ chồng nhà xẩm. “Xẩm tàu điện” xuất hiện và đã khẳng định chỗ đứng xứng đáng như một loại hình âm nhạc dân gian độc đáo của Hà Nội.

Hà Nội như động tiên sa

Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần
Hát Xẩm- nét văn hóa Hà thành - ảnh 2

Vui nhất có chợ Đồng Xuân

Mùa nào thức ấy xa gần xem mua

Hay

Bắc kỳ vui nhất Hà Thành

Phố phường sầm uất văn minh rợp trời

Thanh tao lịch sự đủ mùi

Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy

Đâu đâu khắp hết đông tây

Thăng Long thắng địa xưa nay tiếng đồn

Xẩm đã có một đời sống sâu rộng, tồn tại vững chãi trong văn hóa của người Việt xưa. Sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt, tiếp đó là những khó khăn trong thời kỳ kinh tế bao cấp đã khiến Xẩm Hà Nội nói riêng và Hát Xẩm nói chung, cũng như rất nhiều những loại hình diễn xướng dân gian khác của dân tộc ta có lúc tưởng mai một, thậm chí đứng trước bờ vực của sự lãng quên và thất truyền. Cho đến thời gian gần đây, khi xu hường hội nhập quốc tế ngày một mạnh mẽ thì nhu cầu lưu giữ những giá trị truyền thống, mang bản sắc dân tộc được đặt ra như một nhu cầu bức thiết...

Những loại hình văn hóa dân gian như hát xẩm không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa về mặt văn hóa, mà lớn lao hơn, những tác phẩm ấy chính là sự thể hiện rõ nét của đời sống, là biểu hiện của tư tưởng, của tâm hồn cha ông ta. Đó chính là một phần của nguồn cội.

 

ST

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác