Hội nhập quốc tế, khuyến khích sáng tác và trách nhiệm của người nghệ sỹ

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, điện ảnh Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc, tách rời khỏi điện ảnh khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, việc phát huy nội lực, bản sắc dân tộc để có tiếng nói riêng cũng là một vấn đề cần được nêu cao, khuyến khích và cân bằng.

Hội nhập quốc tế, khuyến khích sáng tác và trách nhiệm của người nghệ sỹ - ảnh 1

Đây chính là điều cốt yếu để nền điện ảnh Việt Nam có thể hòa nhập và có chỗ đứng riêng trên bản đồ điện ảnh thế giới. Hai cuộc hội thảo Điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế cũng như Khuyến khích sáng tác và trách nhiệm của người nghệ sỹ trong Ngày điện ảnh Việt Nam lần thứ nhất vừa qua cũng không nằm ngoài mục đích này. Nội dung hội thảo không mới nhưng cần thiết để tiếp lửa cũng như căn chỉnh lại hướng đi cho các nhà làm phim Việt Nam. Có thể nói, đây là hội thảo có nhiều ý kiến rõ nét nhất từ trước tới giờ. Thế giới điện ảnh xin điểm lại những tham luận đáng chú ý trong hai cuộc hội thảo vừa qua.

Hội nhập quốc tế, bài học từ Hàn Quốc!

Điện ảnh là một nền công nghiệp và tất nhiên một nền công nghiệp thì yếu tố đầu tiên là không thể tụt hậu. Bắt kịp và hội nhập quốc tế là điều hiển nhiên cần phải làm trước khi muốn chuyển tải thông điệp của mình một cách thuyết phục. 

Chúng ta đã hội nhập chưa? Tất nhiên là có.

Đó là ý kiến trong bản tham luận đề dẫn của GS-TS, Chủ tịch Hội điện ảnh Việt Nam Trần Luân Kim. Ông lấy dẫn chứng về sự hội nhập ở nhiều khía cạnh như “đoàn làm phim ra nước ngoài thực hiện” tiêu biểu là Cánh đồng ma, Truyện Kiều từ trước năm 1945; “các nhà làm phim nước ngoài đến Việt Nam làm phim” như đạo diễn R.Carmen thời chống Pháp với bộ phim Việt Nam trên đường thắng lợi; Cán bộ điện ảnh đi đào tạo ở nước ngoài như Ấn Độ, Vgick (Nga)…; chúng ta có phim tham dự các LHP quốc tế thời kháng chiến chống Mỹ và sau này….Cho tới tận bây giờ, sau khi Việt Nam ra nhập WTO (2007) thì vấn đề hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với nhiều hợp tác làm phim, nhập khẩu phim, đa dạng về ngôn ngữ điện ảnh, bắt kịp kỹ thuật một số nước lân cận…

Và tất nhiên, đó là sự hội nhập mang tính chất lẻ tẻ, ngắt đoạn và không có chiến lược. Một nền điện ảnh hội nhập thực sự phải có một chiến lược. Qua đó, ông nhấn mạnh trong bản tham luận của mình hai điều:

Thứ nhất, phải “xác lập và giới thiệu bản sắc dân tộc của điện ảnh Việt Nam ra với thế giới” bằng cả nội dung cũng như cách thể hiện.Thứ hai là “tiếp thu tinh hoa thế giới, nâng cao chất lượng điện ảnh nước nhà”, vượt rào cản quốc gia, không chỉ nhăm nhăm mỗi bản sắc dân tộc và cần chia sẻ tiếng nói chung với nhân loại, hướng tới khán giả, từ đó nâng tầm tác phẩm nghệ thuật. 

Cũng theo ông, sự hội nhập này rất cần sự quan tâm, quán triệt của nhà nước, của các nhà quản lý về mặt nhận thức cũng như cơ chế, chính sách từ trên xuống. Phải có những hỗ trợ thiết thực hơn như về thuế, vốn sản xuất cho các dự án, đất cho doanh nghiệp điện ảnh, kinh phí quảng bá, đào tạo bồi dưỡng…Tất nhiên, ngoài yếu tố cơ chế chính sách hỗ trợ thì người nghệ sỹ vẫn là tâm điểm. Ông nhấn mạnh điều cốt lõi trong sự hội nhập là: “đi tới tận cùng cái dân tộc sẽ có cơ may gặp cái nhân loại”. Tức là, bản sắc dân tộc vẫn là lá cờ đầu trong việc khẳng định mình trên con đường hội nhập.

Phát huy bản sắc dân tộc để hội nhập quốc tế cũng là ý kiến nhấn mạnh thêm của TS Ngô Phương Lan trong bài tham luận của mình. Điểm cốt lõi theo bà là: “Trong cơn lốc của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, các nước nhỏ và nghèo chịu thua thiệt nhiều nhất, thậm chí phải gánh cả nguy cơ bị xóa sổ vì sự lấn át của các nước lớn, giàu. Bối cảnh như vậy khiến cho bản sắc văn hóa dân tộc có vị trí quan trọng đặc biệt trong việc gìn giữ sự tồn tại sự bền vững của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia bởi một dân tộc dù có nhỏ bé đến đâu cũng không thể xóa sổ khi nền văn hóa giàu bản sắc của mình còn tồn tại…”. Điều này luôn đúng và là con đường đi đúng đắn nhất cho con đường hội nhập quốc tế mà vẫn giữ một vị trí, tiếng nói riêng.

Trong bài tham luận của mình, ngoài việc đi sâu sát vào phân tích, chỉ ra những điểm tích cực cũng như hạn chế của điện ảnh Việt Nam từ trước tới giờ từ đó rút kinh nghiệm, chắt lọc những mặt tốt, hạn chế những thứ kìm hãm điện ảnh bấy lâu, TS Ngô Phương Lan cũng định nghĩa lại việc “thế nào là tuyên truyền”. Đây là hai từ sợ nhất của các nhà làm phim Việt Nam khi bị nhắc tới trong tác phẩm. Theo bà, chúng ta nên nhìn nhận lại vấn đề này. Bà lấy một số ví dụ về phim Mỹ, phim Hàn mà yếu tố truyên truyền về bản sắc dân tộc rất cao. Quan trọng là cách kể có thuyết phục hay không và chúng ta tuyên truyền cái gì, đó mới là điều quan trọng. Cũng trong bản tham luận này, bà nhấn mạnh thêm bản sắc dân tộc để hội nhập “không phải là khư khư ôm lấy những gì xưa cũ mà cần những cách kể, cách diễn đạt, cách thể hiện bằng ngôn ngữ điện ảnh sáng tạo, mới mẻ để kể những câu chuyện Việt Nam, vấn đề trong cuộc sống Việt Nam, số phận và con người Việt Nam…”.

Bài tham luận của nhà văn – nhà biên kịch Lê Ngọc Minh thì nhấn mạnh cần đẩy mạnh yếu tố hợp tác quốc tế trên bốn phương diện: Đào tạo đội ngũ điện ảnh, Sản xuất phim và phổ biến phim, Tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và Trao đổi nguồn nhân lực. Theo ông, hiện nay với việc Luật điện ảnh ra đời cộng thêm cơ chế thông thoáng, sự khuyến khích của nhà nước, xã hội hóa điện ảnh là cơ hội rất lớn để nền điện ảnh Việt Nam bứt phá. Tức là cơ chế đã thoáng, điện ảnh không còn là “việc của riêng ai”, tư nhân hay nhà nước đều phải nhân cơ hội này vì một nền điện ảnh chung mà bắt tay phát triển.

Ở một khía cạnh khác, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên nhấn mạnh rằng muốn điện ảnh Việt Nam hội nhập với thế giới thì việc đầu tiên là phải hội nhập từ những quan niệm về điện ảnh. Trong bản tham luận, anh muốn khẳng định lại 5 quan niệm sai lầm của chính người Việt khi nghĩ về điện ảnh nước nhà là:

Thứ nhất, đó là “điện ảnh là một lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận chứ không phải là một lĩnh vực cần cứu trợ”. Trong luận điểm này, anh nêu rõ việc tại sao điện ảnh Việt mang tiếng “ăn bám” bởi bấy lâu nó vẫn mang trách nhiệm tuyên truyền và sống dưới sự tài trợ của nhà nước. Chính điều này khiến chất lượng phim ngày càng giảm và hình ảnh các nhà làm phim rất thảm hại trong mắt công chúng.

Thứ hai là phải tách bạch rõ ràng giữa “Phim – điện ảnh hay Phim – truyền hình”. Chính sự nhầm lẫn này dẫn đến sự đánh đồng trong chính sách phát triển của nhà nước mà điện ảnh thì cần một con đường đi khác hẳn so với truyền hình.

Thứ ba là làm rõ “Khán giả là ai”, đó là mục đích để điện ảnh hướng tới, những khán giả bỏ tiền ra mua vé, thưởng thức nghệ thuật một cách có nhu cầu, chân chính chứ không phải khán giả miễn phí tồn dư ý thức từ thời bao cấp. Từ đó mới kích cầu phát triển được nền điện ảnh.

Thứ tư theo đạo diễn Bùi Thạc Chuyên là phải phân định rõ ràng “điện ảnh là Nghệ thuật hay Sản phẩm tuyên truyền”. Đó chính là việc chuyển giai đoạn cho điện ảnh Việt Nam, trả lại đúng bản chất cho điện ảnh là một bộ môn nghệ thuật. Như vậy, nó mới được tôn trọng, người nghệ sỹ mới quyết tâm sáng tạo và mới có khán giả bỏ tiền mua vé vào xem.

Và cuối cùng, anh muốn làm rõ quan niệm về việc “nhà nước là nhà đầu tư hay nhà tài trợ”. Nhà đầu tư là những người bỏ tiền cho một thương vụ và mong kiếm lời. Còn theo anh, nhà nước nên là nhà tài trợ lớn nhất để bảo hộ cho nền điện ảnh đang chập chững ra với thế giới không bị xâm lăng cũng như cho những dự án thể nghiệm, dự án vì cộng đồng, sự phát triển văn hóa nghệ thuật.

Nếu hiểu đúng những khải niệm này thì điện ảnh Việt Nam mới có thể bước cùng thế giới để hội nhập được.

Đạo diễn Đặng Nhật Minh trong bản tham luận của mình lại nhấn mạnh việc quảng bá và phát hành phim. Ông cho rằng nhà nước đang thờ ơ với phim ảnh, không mặn mà với việc quảng bá phim, quảng bá điện ảnh Việt ngay với chính khán giả Việt. Chính vì vậy, phim Việt không được nước ngoài biết đến, họ có muốn mua, muốn xem cũng không thể.

Cũng nằm trong luồng suy nghĩ này nhưng nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn lại lý giải bằng một cách nhìn hóm hỉnh “Phim Việt – một du khách lạ”. Theo ông, nếu muốn hội nhập nước ngoài, phim Việt phải “hội nhập” được chính trong nước đã. Trong bản tham luận của mình, ông đưa ra luận điểm về việc phim Việt bị coi là “khách” trong nước cũng như nước ngoài bởi sự xuất hiệc lác đác, theo kiểu trang trọng “cho có” và giải thích nó bằng cách đưa ra các nguyên nhân như tính khu biệt ngôn ngữ, cách làm phim phức tạp, nặng tính tuyên truyền, công nghệ yếu kém cũng như đào tạo, nhân lực…

Điểm đáng chú ý nhất trong hội thảo lần này là sự xuất hiện cũng như bản tham luận của ông Jonathan Kim – Giáo sư Học viện điện ảnh Hàn Quốc. Theo ông, Việt Nam và Hàn Quốc đều khá tương đồng về nền văn hóa. Điện ảnh Hàn Quốc cách đây gần 20 năm cũng không khác nền điện ảnh Việt hiện nay là mấy. Sự thay đổi bắt đầu đến từ năm 1996 khi Tòa án hiến pháp Hàn Quốc đưa ra quyết định việc kiểm duyệt là trái với hiến pháp và được đổi thành hệ thống Phân loại. Sự kiện này đã khiến các ý tưởng làm phim trước đó được mở toang. Năm 1999, bộ phim Shiri được ra mắt công chúng đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt. Đặc biệt bởi nó mang phong cách Mỹ với trình độ sản xuất ngang tầm Hollywood nhưng được đưa vào một cốt truyện và cảm xúc đặc trưng Hàn Quốc. Bộ phim đã đánh bại siêu phẩm Titanic tại các quầy vé Hàn Quốc. Người làm phim gọi bộ phim này là “Loài cá đánh đắm tàu Titanic” (Shiri là tên một loài cá).

Tiếp theo đó là sự đầu tư, quan tâm của chính phủ Hàn Quốc cũng như các nhà đầu tư khiến thị phần trong nước của phim Hàn tăng mạnh và chất lượng phim dần nâng, vươn ra các khắp các nước châu Á.

Sự kiện Shiri kết hợp giữa phong cách, công nghệ của Mỹ và bản sắc Hàn thắng lớn chính là hạt nhân cho sự phát triển của điện ảnh cũng như truyền hình Hàn Quốc đang làm mưa làm gió ở châu Á hiện nay. Ông Jonathan Kim ngoài việc lý giải sự thành công của Hàn Quốc còn tự hào: “Chúng tôi không phải là người Nhật Bản, chúng tôi có bản sắc Hàn Quốc và tương lai điện ảnh chúng tôi càng tươi sáng hơn bao giờ hết”.

Đó chắc chắn là hướng đi của chúng ta.

Khuyến khích thế nào để có được trách nhiệm?

Đó là câu hỏi lớn cho những người làm nghề cũng như đường lối phát triển điện ảnh của nhà nước. Hội thảo Khuyến khích sáng tác và trách nhiệm của người nghệ sỹ đã được đông đảo nghệ sỹ trong Nam, ngoài Bắc hưởng ứng. Hầu hết ý kiến của các nghệ sỹ tham gia đều nhấn mạnh việc nhà nước cần có một cơ chế thoáng, một chính sách phát triển dài hạn cho ngành điện ảnh, từ đó mới kích thích được sức sáng tạo của người nghệ sỹ cũng như trách nhiệm thực sự của họ mới được bộc lộ. Ngoài ý kiến chung đó ra, mỗi nghệ sỹ cũng có một cách nhìn, khía cạnh riêng.

Theo nữ diễn viên Hiền Mai chia sẻ trong bản tham luận của mình, cô nhấn mạnh người nghệ sỹ cần phải có sự trung thực, nhưng không trần trụi mà phải biết chọn lọc. Cần có những tác phẩm đánh thức cái tốt, dẹp bớt cái xấu, nên người nghệ sĩ luôn phải hoàn thiện bản thân, không thờ ơ đứng bên lề cuộc sống, hay tự mãn với bản thân, đó là trách nhiệm của mỗi nghệ sĩ chúng ta.

Đứng giữa trách nhiệm của người nghệ sỹ và cuộc sống, nữ diễn viên Hạnh Thúy đề cập vào vấn đề nên tự ý thức với danh hiệu người nghệ sĩ của mình. Cô nhấn mạnh về việc tình hình hiện nay, khi các phim đều có các nhân vật na ná như nhau, diễn xuất nhàn nhạt, cốt truyện và cách dàn dựng dễ dãi…thì khó có thể đẩy được hưng phấn cho người khao khát được làm nghề. Bên cạnh đó, cô cũng trăn trở về với việc chế độ đãi ngộ cho người làm nghề chưa tốt “chúng tôi có quyền từ chối nhưng cùng lắm là 5 phim thôi chứ, chúng tôi còn phải sống…”

Khuyến khích sáng tác có nghĩa là cho nghệ sỹ Tự do sáng tác, đó chính là điểm cốt yếu trong bản tham luận của họa sỹ Đỗ Lệnh Hùng Tú. Theo anh, tự do sáng tác chính là “tự do tư duy” và “tự do thể hiện” những ý tưởng.Từ đó làm hạt nhân cho các hoạt động khuyến khích sáng tác như tăng cường đầu tư cho sáng tác, bồi dưỡng đội ngũ trẻ, chấp nhận thể nghiệm mới, mở rộng, xã hội hóa sáng tác, có bảo hộ bản quyền….Có như thế, nghệ sỹ mới có động lực sáng tác và có trách nhiệm với đứa con tinh thần của mình.

Nhà báo Tô Hoàng và đạo diễn Nguyễn Việt Hùng cùg có một cái nhìn về cách làm việc thiếu chuyên nghiệp cũng như viẹc tạo điều kiện cho lớp trẻ làm phim. Đó là một thực tế cần phải khắc phục cũng như tạo được sự cạnh tranh cần thiết để các nghệ sỹ tự ý thức được trách nhiệm của mình với tác phẩm. Ông Tô Hoàng đề xuất : Nhà nước cần chi kinh phí để đầu tư vào việc nuôi dưỡng, khai mạch, nảy nở những tài năng, diện mạo mới cho ngành. Nên chăng phân bớt kinh phí của nhà nước dành cho các bộ phim hướng tới đề tài lịch sử, các lễ hội để nuôi lớn các đạo diễn trẻ; Nên tính toán lại số tiền dành cho các đạo diễn gạo cội thực hiện các bộ phim triết lý và suy ngẫm để góp phần tạo mảnh đất thực nghiệm cho đạo diễn trẻ. Riêng chương trình Giờ Vàng dành cho phim truyền hình, nên ưu tiên thời lượng cho những tìm tòi, khám phá của các đạo diễn trẻ.

Điều này cũng nhận được sự tán đồng của đạo diễn Lê Cung Bắc trong bài phát biểu của ông.

Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần trăn trở trong bản tham luận của mình về việc “vai trò, trách nhiệm của người nghệ sỹ sẽ được thể hiện ở đâu” khi mà nơi để người nghệ sỹ bộc lộ điều đó không có. Điều đó thể hiện ngay trong tựa đề bản tham luận: “Khái niệm trách nhiệm nghệ sỹ đưa ra lúc này nghe có vẻ xa lạ, lạc hậu thế nào ấy”. Trăn trở với cuộc sống, muốn đóng góp thông qua tác phẩm của mình nhưng ở đâu cho làm và chiếu ở đâu khi tình trạng hiện nay Việt Nam chỉ có hai dòng phim: Phim tết – với tính chất giải trí chủ yếu dành cho tuổi teen và phim “cúng cụ”, nhà nước đặt hàng thường thiên về lịch sử, cách mạng, trính trị….Chính điều này khiến phẩm chất của người nghệ sỹ không còn, dần trở thành “người thợ thủ công, người làm thuê” cho các hãng phim. Và như vậy, cái gọi là trách nhiệm nghệ sỹ khỏi phải bàn đến nữa.

Chính điều đó, trong bản tham luận của mình ông nhấn mạnh, nếu muốn có những nghệ sỹ đúng nghĩa, muốn họ có trách nhiệm thì trước hết nhà nước cần có một chiến lược dài hơi cho điện ảnh, khuyến khích đẩy mạnh từ khâu đào tạo, nội dung, xây dựng trang thiết bị cho đến tạo dựng thị trường…Có môi trường điện ảnh thì mới có nghệ sỹ điện ảnh đúng nghĩa và đòi hỏi ở họ những trách nhiệm tương xứng.

Đạo diễn Phan Huyền Thư của hãng phim Tài liệu & khoa học TW lại nhấn mạnh tới việc chuyển giao thế hệ, đó chính là “trách nhiệm của các nghệ sỹ đi trước”. Tính trách nhiệm phải có sự kế thừa, xã hội đã thay đổi, hãy chuyển giao cho những người trẻ trung hơn đang háo hức đưa vai gánh vác. Ngoài việc nhấn mạnh “thế giới đã thay đổi”, đạo diễn Phan Huyền Thư cũng đi thẳng vào vấn đề “cần phải ý thức về chuyển giao thế hệ như một nghĩa vụ”. Bởi nếu không, tình trạng tồn tại khoảng trống giữa hai thế hệ cũng như sự sáo mòn bởi cá tính sáng tác bị tiêu diệt triệt để như hiện nay vẫn còn tồn tại, dẫn tới nền điện ảnh Việt ngày càng tụt hậu, nhút nhát, thiếu sáng tạo. Việc chuyển giao vừa là trách nhiệm, vừa mang tính khuyến khích sáng tác cho đội ngũ kế cận. Đó là việc nên làm và bắt buộc của một nền điện ảnh lành mạnh chứ không phải là một đặc ân. Đó là sự “cởi trói” cho bản lĩnh sáng tạo của nghệ sỹ.

Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên mở đầu bản tham luận với sự khám phá về bản thân người nghệ sỹ. Theo anh, nghệ sỹ vốn bản tính yếu đuối và cần lắm sự khuyến khích sáng tạo. Có điều đó, nghệ sỹ mới sáng tạo hiệu quả. Sự khuyến khích sáng tác lớn nhất theo đạo diễn chính là môi trường sáng tác, nó phải bắt đầu bằng sự tôn trọng và tôn vinh thật sự chứ không phải cào bằng, ủng hộ hay mang một giá trị khác ngoài nghệ thuật như hiện nay. Thứ hai là nó phải được trả lại đúng vị trí là một bộ môn nghệ thuật chứ không phải công cụ tuyên truyền.

Cũng trong bản tham luận của mình, với một số dẫn chứng xác thực, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên cũng kêu gọi đồng nghiệp phải đi đến tận cùng và bắt đầu từ những thức đơn giản nhất, không bị áp lực bởi bất cứ thứ gì ngoài sức hấp dẫn của tác phẩm, “sáng tạo nghệ thuật phải diễn ra như một cuộc chơi, với tất cả đam mê và tình yêu”.


Theo TGĐA

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác