Khập khiễng phim Việt

(Cinet)-Từ nhiều năm nay, những người làm điện ảnh ở TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung vẫn trăn trở một điều: Điện ảnh Việt Nam sẽ thoát khỏi bầu sữa bao cấp như thế nào? Sở dĩ tô đậm sự phát triển điện ảnh TP.HCM vì đây là nơi xuất phát phong trào làm phim thị trường sớm và sôi nổi nhất.

Khập khiễng phim Việt - ảnh 1

Từ ngày những bộ phim “Ngã ba lòng”. “Tình người kiếp rắn”... mà trong giới còn phim, báo chí lẫn khán giả vẫn gọi vui là phong trào làm phim “mì ăn liền” cho đến những năm sau này khi có nhiều hãng phim và cơ sở sản xuất phim tư nhân ra đời, đã làm phong phú đời sống điện ảnh nước nhà.

Nói thoát khỏi cái nôi bao cấp, mới nghe tưởng dễ nhưng vào trận mới thấy khó. Nhiều người không thích xóa bao cấp điện ảnh. Cũng không ít người muốn mở ra cơ chế thị trường càng sớm, càng rộng rãi càng tốt. Ai cũng có lý do của mình. Đầu tư cho điện ảnh lời hay lỗ? Tại sao phim chỉ có nhiều vào mùa Tết? Nhờ sản xuất phim Phước Sang đã từng nói: Làm phim có nhiều rủi ro. Những người bây giờ còn làm phim là những người dũng cảm, phải được tuyên dương. Nói vậy nhưng Phước Sang vẫn bỏ tiền ra làm phim. Và không chỉ riêng Phước Sang mà còn có các hãng phim Thiên Ngân, Chánh Phương. BHD, Lý Huỳnh... làm như vậy. Có lẽ họ có duyên với điện ảnh, không bứt ra được!

Nhà sản xuất bỏ vốn hàng chục tỷ đồng để làm phim, quảng cáo phim. Nhưng để thu hồi vốn và lấy được tiền sau khi chiếu phim là cả nỗi gian truân, rất chậm và khó khăn. Chưa nói tỷ lệ ăn chia với rạp chưa hợp lý. Vậy các nhà sản xuất lấy đâu ra nguồn vốn để tiếp tục sản xuất?

Nhiều phim Việt Nam được khán giả xem phim khen hay, như "Sống trong sợ hãi” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên. Nhưng khi chiếu rơ rạp doanh thu chỉ hơn 100 triệu đồng. Phim hay, người xem phim khen nhưng làm sao để khán giả biết đó là phim hay mà đi xem, làm sao kéo khán giả đến rạp? Áp phích phim “Sống trong sợ hãi” không đẹp đã đành, cũng chẳng thể hiện ý tứ gì, chẳng có gì gợi sự chú ý cho người xem. Trong khi áp phích phim của nước ngoài nhìn vào thấy ấn tượng, muốn xem phim. Các phim của hãng Phước Sang, Thiên Ngân hay BHD cũng có áp phích quảng cáo khá hợp dẫn, chiến lược quảng cáo tốt. Hỏi Bùi Thạc Chuyên, anh ngậm ngùi, tiền quảng cáo chỉ có 50 triệu đồng. Hãng phim tu nhân của Phước Sang có thể chi 500 triệu đồng cho quảng cho phim “Đẻ mướn”, hãng phim Thiên Ngân cũng dành từng ấy tiền cho “Nữ tướng cướp” nhưng các hãng phim nhà nước không có và không được chi số tiền như vậy cho quảng cáo. Để làm một cuốn phim, có thể có vốn mười mấy tỷ đồng để thực hiện nhưng không có khoản chi thỏa đáng dính cho quảng cáo phim!

Phim trường, bao giờ?

Người ta thường nói vui với nhau điện ảnh nước ta yếu và thiếu đủ thứ. Thiếu tài năng, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu một cơ chế thoáng. Không có chiến lược lớn, lâu dài. Cái gì cũng tạm bợ, lo phần trước mắt, đối phó trước mắt. Hàng năm tổ chức sản xuất hàng chục cơ chế thoáng. Không có chiến lược lớn, lâu dài. Cái gì cũng tạm bợ, lo phần trước mắt, đối phó trước mắt. Hàng năm tổ chức sản xuất hàng chục phim nhựa, hàng trăm phim truyện và phim truyền hình... mà cả nước không có nổi một phim trường. Toàn quay phim “tự nhiên”, lấy đường phố hay nhà dân làm bối cảnh quay. Mỗi lần quay là ngăn đường cấm chợ làm, ách tắc giao thông. Người làm phim không có không gian riêng, mỗi lần quay phim người hiếu kỳ xúm đen xúm đỏ. Quay phim này xong phá bỏ những bối cảnh (lớn) đã dựng, phim sau có bối cảnh tương tự phải dựng lại vừa lãng phí vừa mất thời gian, công sức.

Phim muốn xuất khẩu ra nước ngoài phải bảo đảm kỹ thuật. Kỹ thuật không tốt không thể đem đi dự thi chứ chưa nói đưa ra chiếu kinh doanh ở rạp. Việc xây dựng một trung tâm kỹ thuật thật tốn kém ở Hà Nội nhưng bây giờ phim truyện của ta hầu như phải đưa đi Thái Lan làm hậu kỳ vừa rẻ vừa bảo đảm chất lượng hơn thì thật trái khoáy!

Việc đầu tư còn bao gồm cả về đào tạo con người đào tạo đội ngũ kế thừa. Nghề làm phim đòi hỏi những người làm phải có chuyên môn sâu. Loại chuyên môn này chỉ có những trường đào tạo căn cơ như trường Đại học Điện ảnh của Hà Nội và TPHCM mới thực hiện được. Thực tế các nơi này chỉ đào tạo rất ít đạo diễn, quay phim, diễn viên... những bộ phim khác hầu như không có. Người dựng phim, làm âm thanh, họa sĩ, thiết kế, hóa trang, thậm chí thư ký trường quay đều thiếu. Diễn viên điện ảnh không đủ, phải chọn chọn viên từ sân khấu, chọn người mẫu thời trang... Tới đây, khi cổ phần hóa các hãng phim nhà nước, càng cần đội ngũ làm nghề chuyên nghiệp.

Trước đây làm phim bằng tiền ngân sách nhà nước, người làm phim không cần chú trọng đến việc thu hồi vốn, không còn biết khán giả có thích phim của mình không... Bấy giờ, các nhà sản xuất phim tư nhân bỏ tiền làm phim đều phải tính đến thu hồi vốn và lời, bắt buộc họ phải có ý thức trong việc tìm kiếm lợi nhuận từ sản xuất và yếu tố khán giả - người sẽ bỏ tiền ra mua vé thưởng thức tác phẩm của mình. Người làm phim hiện nay cũng đã ý thức hơn trong việc tìm hiểu khán giả yêu thích cái gì, cần cái gì, muốn cái gì... chứ không phải áp đặt cáin mình muốn, mình thích, mình biết cho khán giả.

Cần nhìn nhận đúng mức, thấu đáo

Yêu cầu của công chúng giờ đây cũng khác: Đề tài phim phải là của Việt Nam. Con người, đất nước ta trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, có vô vàn câu chuyện để các nhờ làm phim biến thành phim rất hay và phong phú; không nhất thiết phải đi mua truyện, kịch bản của nước ngoài. Điều này cũng đòi hỏi tác giả phải có vốn sống. Hàng năm, các Hội văn học nghệ thuật đều tổ chức những chuyến đi thực tế về mọi miền đất nước cho các tác giả kịch bản, đạo diễn. Nhưng điều đó hoàn toàn chưa đủ. Phải tích lũy vốn sống bằng nhiều cách, tích lũy cả đời. Phải để cho khán giả có quyền chọn lựa thứ giải trí mà họ thích và sản phẩm phải có chất lượng cao.

Việc làm phim hướng về khán giả, khác với việc làm theo thị hiếu khán giả. Cuộc sống có nhiều điều tốt đẹp mà người làm phim cần khai thác, để làm cho con người càng thêm yêu đời,  yêu cuộc sống. Cần có chính sách đãi ngộ, chăm lo đời sống tinh thần, vật chất cho người làm phim đúng mức để họ toàn tâm toàn ý sáng tác, thể hiện bản lĩnh sáng tạo. Điều cốt lõi làm sao để cuối cùng khán giả và người làm phim là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất. Những nghệ sĩ, những người làm phim lúc nào cũng có phim để trình chiếu trước công chúng. Làm nhiều cũng có thu nhập, có điều kiện phát triển tài năng. Còn khán giả có nhiều phim để chọn lựa hưởng thụ.

Trong chương trình làm việc giữa hai thành phố kết nghĩa Busan (Hàn Quốc) và TPHCM, các đạo diễn Hàn Quốc nêu ý kiến rất đáng suy nghĩ: Việt Nam là một phim trường lớn nhiều đề tài hay, có cảnh đẹp để quay phim nhưng không có một Ủy ban Điện ảnh để giới thiệu ra nước ngoài và tiếp đón những đoàn làm phim nước ngoài vào làm phim. Hiện nay, ta mới chỉ có các dịch vụ lặt vặt, như làm giấy phép cung cấp một số thiết bị, nhân lực... Busan đỡ trở thành “Thành phố Điện ảnh" của Hàn Quốc. Vậy TPHCM có làm được? Phải coi điện ảnh là một phương tiện đối ngoại quốc gia vì nó có sức lan tỏa rất lớn, dễ đi vào lòng người, để người nước ngoài hiểu về đất nước và con người Việt Nam. Đầu tư cho điện ảnh sẽ thu lợi lớn nếu làm đúng bài bản. Còn nếu chỉ cần thu lợi trước mắt, lấy đủ vốn cho phim, những nhà làm phim vẫn sẽ tập trung làm phim chiếu Tết, vì đây là lúc dễ bán được nhiều vé và thu hồi vốn!

 

Cẩm Thuý

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác