Lưu giữ, bảo tồn di sản văn hoá trong thời đại kỹ thuật số

(Cinet) - Hiện tại, vấn đề lưu giữ, bảo tồn di tích trong thời đại kỹ thuật số được coi là nhiệm vụ quan trọng đối với các cơ quan quản lý văn hóa. Đã có nhiều dự án xoay quanh vấn đề này ở Việt Nam và nhiệm vụ quan trọng nhất trong những dự án này chính là việc ứng dụng công nghệ (số hóa) để bảo tồn các giá trị di tích.

Văn Miếu Quốc Tử Giám là di sản đầu tiên được số hóa tại VNVăn Miếu Quốc Tử Giám là di sản đầu tiên được số hóa tại VN

Đây là vấn đề được các nhà quản lý văn hóa hết sức coi trọng trong thời gian gần đây. Từ đầu năm 2010, Trung tâm CNTT (Bộ VH-TT-DL) cũng đã triển khai dự án ứng dụng công nghệ để bảo tồn các giá trị di tích, hay còn gọi là dự án số hóa không gian di tích, với mục địch ứng dụng công nghệ để hiển thị các di sản văn hóa trong không gian ảo, theo hình mẫu Cổng thông tin quốc gia về văn hóa, dự án được dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015.

Trong tháng 3 vừa qua, tại Bảo tàng Lịch sử VN, hội thảo “Di sản văn hóa và giải pháp số hóa không gian di tích” cũng đã diễn ra. Tại hội thảo này, PGS.TS Tống Trung Tín - viện trưởng Viện Khảo cổ học đã khẳng định: số hóa không gian di tích là cần thiết, nó đặc biệt cần đối với các công trình kiến trúc như các kinh đô của người Việt xưa. Ông đặt vấn đề làm thế nào để có thể làm sống lại diện mạo kinh đô, cấu trúc của đời sống cung đình hay những sinh hoạt dân gian. Số hóa không gian di tích chính là cách để đưa người hiện đại về với lịch sử hàng nghìn năm trước.

Việt Nam có hơn 3.100 di tích được xếp hạng di tích cấp quốc gia, gần 8.000 lễ hội và rất nhiều những di sản văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc anh em, trong đó có nhiều di sản văn hóa vô cùng quý giá như kiến trúc Chăm trong văn hóa Chăm, hay những nét văn hóa đặc sắc của nước ta như Tây Nguyên hay các tỉnh miền núi phía Bắc… Tuy vậy, các di sản này luôn chịu tác động của nhiều nhân tố như: thời gian, chiến tranh, biến đổi của địa lý và khí hậu, những biến dạng của môi trường sống, ý thức của cộng đồng, sự xê dịch văn hóa và thay đổi của ý thức hệ... Việc giữ gìn, khôi phục các giá trị văn hóa đang là một thách thức, là công việc hệ trọng, phức tạp và nặng nề không chỉ riêng với Việt Nam mà đối với tất cả các quốc gia. Nếu không có những biện pháp gìn giữ kịp thời thì nguy cơ bị xóa nhòa những giá trị này là không còn xa. Do đó phương pháp tối ưu nhất được các chuyên gia đưa ra, đó là giải pháp: số hóa di sản.

Cách đây vài năm, trong khi kho sắc phong cả nước đang đứng trước nguy cơ mai một, xuống cấp thì Bảo tàng Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh) đã nghiên cứu và thực hiện thành công việc số hóa công tác lưu trữ sắc phong, đồng thời mở "dịch vụ" khôi phục, làm lại sắc phong. Theo khảo sát tại riêng Bắc Ninh, làng ít sắc phong nhất cũng phải có từ 3 đến 4 đạo, làng nhiều nhất có tới 54 đạo sắc phong được vua ban qua các thời kỳ. Các sắc phong hiện còn, cổ nhất có niên đại từ đời Lê, gần nhất thuộc đời Nguyễn song tất cả đều được bảo quản rất kém. Việc số hóa đã giúp bảo tồn bền vững một di sản vô cùng quý giá.

Các sự án số hóa di tích sẽ hướng đến các mục tiêu tích hợp một hệ thống tài nguyên văn hóa trong không gian vật lý (thông qua việc số hóa), bên cạnh các thực thể văn hóa tồn tại trong không gian địa lý; Nhằm bảo tồn, phát huy, giúp chúng ta hình dung toàn vẹn quá trình lịch sử của từng di tích, qua đó cũng giới thiệu và quảng bá hình ảnh văn hóa đặc sắc của Việt Nam đối với công chúng trong và ngoài nước...

Thông qua công nghệ 3D, các di sản sẽ được lưu giữ và phục dựng một cách hệ thống và chính xác. ở Việt Nam, các chuyên gia công nghệ thông tin đã nghiên cứu dựa trên nguyên mẫu là một pháo đài của Anh. Chỉ bằng một động tác click chuột, người xem có thể tham quan mọi không gian  trong pháo đài. Từ mô hình này, các chuyên gia Việt Nam đã chọn Văn miếu Quốc Tử Giám là di sản đầu tiên thực hiện số hóa. Với việc ứng dụng công nghệ này, toàn bộ kiến trúc của Văn miếu Quốc Tử Giám sẽ được thể hiện một cách sinh động, chân thực và chính xác nhất.

Theo một số ý kiến chuyên gia thì việc ứng dụng công nghệ, cụ thể là không gian 3D trong văn hóa hoàn toàn khác so với không gian 3D trong quân sự, giao thông hay phim ảnh… Do vậy việc áp dụng công nghệ 3D trong văn hóa nhất thiết phải gắn liền giữa các chuyên gia công nghệ và các nhà văn hóa, lịch sử.

Trong thời gian tới, các chuyên gia trong nước sẽ chọn lọc những di sản tiêu biểu như hệ thống các thành cổ, các di sản được Unesco công nhận để tiến hành số hóa. Không chỉ lưu giữ hình ảnh các di sản vật thể, dự án còn số hóa các di sản phi vật thể như cồng chiêng Tây Nguyên, không gian quan họ Kinh Bắc hay ca trù Lỗ Khê… Những công nghệ tối tân đã được trang bị cho việc hình thành bảo tàng ảo, nhưng theo các nhà nghiên cứu, việc xác định số hóa di sản lựa chọn những thời điểm lịch sử nào để làm nổi bật được bản sắc của di sản cũng là yếu tố rất cần thiết.

Nhiều ý kiến cho rằng, nỗ lực bảo tồn các di sản văn hóa, khôi phục các giá trị văn hóa không chỉ cần đến tiền của, công sức, mà còn cần đến sự hiểu biết tường tận về khoa học trong lĩnh vực di sản, và sử dụng công nghệ 3D cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa là một giải pháp mà nhiều nước trên thế giới đã làm. Tuy nhiên biện pháp này với Việt Nam vẫn còn là mới mẻ và việc đầu tư thời gian, nhân lực, kinh phí… để nghiên cứu và thực hiện những dự án về vấn đề số hóa để bảo tồn di sản là nhiệm vụ hết sức cần thiết.

 

LS

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác