Năm mới nghĩ về linh vật Việt

Năm mới nghĩ về linh vật Việt - ảnh 1
Trong tâm thức người Việt luôn có con vật linh thiêng tượng trưng cho sức mạnh của các vị thần. (Ảnh: Hà Tuấn)
(Cinet)- Sau khi Công văn 2662/BVHTTDL-MTNATL về việc “không sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam” ký ngày 8/8/2014 ra đời, nhiều hoạt động có liên quan đến các linh vật ngoại lai đã được triển khai đồng loạt trên nhiều phương diện.
Tuy nhiên, ở phương diện học thuật thì cho đến nay vẫn chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào ra đời để xác định linh vật hay linh vật biểu tượng ở đây là gì, cái gì phù hợp và cái gì không phù hợp. Điều này dẫn đến sự lúng túng của nhiều cơ quan chức năng khi thực hiện công văn nói trên. Đã đến lúc chúng ta cần phải có một chuyên khảo nghiên cứu về các đối tượng này. Nhân dịp năm mới Bính Thân, chúng tôi xin góp bàn thêm một vài ý kiến từ góc độ thuật ngữ.
Linh vật, Vật linh hay Các con vật linh?
Theo các từ điển lớn trên thế giới như Oxford, Merriam-Webster,… vật linh hay con vật linh (holy animal/sacred animal) là con vật được sử dụng trong các tín ngưỡng thờ động vật (animal worship) thể hiện sự tôn kính con vật thông qua sự kết nối của nó với một vị thần đặc biệt. Ở đây, các vị thần được biểu hiện dưới hình dạng động vật nhưng hoàn toàn không phải là sự thờ phụng chính con vật đó. Thay vào đó, sức mạnh thiêng liêng của vị thần được thể hiện trong mỗi con vật được thể hiện như là hóa thân của chính vị thần này. Chẳng hạn, biểu tượng rắn Naga trong văn hóa Ấn Độ thường được xem là ứng thân của thần Shiva trong khi biểu tượng khỉ là của thần Hanuman. Biểu tượng con công gắn với thần Hera trong văn hóa Hy Lạp trong khi biểu tượng con dê đực thể hiện cho sự hiện diện của thần Pan,… Ở Trung Hoa, con rồng là biểu tượng độc tôn của Hoàng đế (Thiên tử - con Trời) trong khi ở Việt Nam, rồng là một con vật linh mang tính cung đình nhưng cũng được sử dụng nhiều trong văn hóa dân gian và được gắn với huyền thoại “con rồng cháu tiên.” 
Theo tìm hiểu của chúng tôi, trong lịch sử văn hóa Việt Nam kể từ giai đoạn nhà Nguyễn trở về trước hầu như không tồn tại thuật ngữ vật linh mà chỉ có linh vật (tiếp thu từ tiếng Hán) và vật thiêng (trong tiếng Việt có hàm nghĩa tương tự linh vật). Vật thiêng có thể là con vật, đồ vật, binh khí, vũ khí, pháp khí, đồ tế tự, gốc cây, tảng đá hay những sự vật, hiện tượng có sẵn trong tự nhiên,… thậm chí là một không gian thiêng có giới hạn (như một ngôi đền, miếu) hoặc một không gian thiêng không giới hạn bằng các ranh giới cụ thể như vùng đất thiêng – holy land. Thuật ngữ vật linh chỉ mới xuất hiện gần đây trong không gian học thuật của thế kỷ 20 – khi Việt Nam bắt đầu tiếp thu các nghiên cứu về dân tộc học, nhân học từ nền khoa học nước ngoài, đặc biệt là thuyết vạn vật hữu linh của E. B. Taylor.
Trên thực tế, các con vật linh (CCVL) là sản phẩm mang tính phổ quát trong nền văn minh nhân loại, điển hình là văn học (dù là văn học truyền miệng hay có chữ viết). CCVL thường gắn với các huyền thoại, truyền thuyết,… có trong truyền thống văn hóa ở nhiều nền văn hóa trên thế giới từ xưa đến nay. Ở Việt Nam, việc sử dụng CCVL trong nghệ thuật cũng không nằm ngoài  quy luật trên. Trong quá trình giao lưu văn hóa với các nền văn minh lớn trên thế giới như Trung Hoa, Ấn Độ và phương tây, nền văn hóa Việt Nam đã tích hợp thêm nhiều giá trị từ các quốc gia đó và Việt hóa CCVL có nguồn gốc bên ngoài thành các biểu tượng riêng của mình. Biểu tượng con rồng trong văn hóa cung đình thời Lý hay biểu tượng con kìm, con nghê trong văn hóa dân gian Việt Nam là những ví dụ tiêu biểu. Qua đây, chúng ta có thể định danh CCVL là những con vật linh thiêng (có thực hoặc hư cấu) gắn với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng của một cộng đồng dân cư, được thiêng hóa thành những biểu tượng của cộng đồng đó hay nền văn hóa đó (cụ thể ở đây là người Việt với văn hóa Việt).  
Năm mới nghĩ về linh vật Việt - ảnh 2
Trưng bày chuyên đề “Linh vật Việt Nam” do Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức cuối năm 2015 đã góp phần khơi gợi ý thức văn hóa dân tộc. (Ảnh: Hà Tuấn)
Bên cạnh CCVL, chúng ta cũng thường được nghe tới các linh vật biểu tượng. Theo khảo sát của chúng tôi, cụm từ linh vật biểu tượng được sử dụng trong các biểu tượng trong thể thao, các biểu tượng quốc gia, logo của các công ty,… Chẳng hạn, linh vật biểu tượng của nước Pháp là Gà trống Gô-loa (thường được dùng trong thể thao), linh vật biểu tượng đội tuyển bóng đá Anh là sư tử (hay còn gọi là Tam sư), linh vật biểu tượng SEAGAME 23 ở Việt Nam là trâu vàng, logo của Diêm Thống nhất là chim bồ câu, logo của Merill Lynch là con bò,… Trên thực tế, hệ thống CCVL trong văn hóa truyền thống Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng nên thật khó để chúng ta có thể thống kê hết. Thông qua đây chúng tôi mong muốn đưa đến cho bạn đọc một góc nhìn mới và một hướng tiếp cận mới về CCVL trong văn hóa Việt Nam.  
Năm Thân nói chuyện khỉ
Khỉ là một loài linh trưởng được cho là thông minh nhất trong tất cả các loài động vật và cũng được coi như một nhánh của tổ tiên loài người, tiếng Anh là primate – nguyên nghĩa Latin là đứng đầu. Một trong hai nhánh của bộ linh trưởng (bao gồm Strepsirrhini và Haplorhini) thì nhánh Haplorhini được gọi là nhánh “họ người” với hai phân nhánh: Hominidae - khỉ dạng người và Homo sapiens – loài người. Trong tiếng Hán, từ linh trưởng (phồn thể: 靈長, giản thể: 灵长) mang hàm nghĩa tinh anh, nhanh nhẹn, có tài, đứng đầu,… Điều đó thể hiện sự đánh giá cao của con người đối với sự không ngoan vượt trội của loài động vật này.
Trong văn hóa của các nước thuộc nhóm văn hóa “đồng văn Trung Hoa” như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam,… khỉ là một trong những loài vật quan trọng được đưa vào bộ “mười hai con giáp” và cũng góp mặt trong bộ “tứ xung” (thân - dần - tị - hợi tứ hành xung). Trong văn hóa Trung Hoa, khỉ được gọi là hầu. Vì âm này mà người ta thường liên hệ khỉ với tước hầu (một phẩm vị cao quý chỉ dưới tước vương). Trong văn hóa Việt Nam, khi mắng ai đó mà không muốn nặng lời hoặc chỉ mắng yêu, người ta thường nói “đồ khỉ.” Khi đề cập đến một nơi xa xôi “thâm sơn cùng cốc” người ta thường gọi là nơi “khỉ ho cò gáy.” Khi nói đến lời đe dọa của ai đó mà không đáng sợ, người ta nói rằng: “rung cây dọa khỉ.”
Trong ca dao của người Việt, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những câu có liên quan đến khỉ như:
Chuột chù chê khỉ rằng hôi
Khỉ mới trả lời cả họ mày thơm!
Hoặc:
Con chó chê khỉ lắm lông,
Khỉ lại chê chó ăn rông chạy dài.
Lươn ngắn lại chê chạch dài;
Thờn bơn méo miệng chê trai dài mồm...
Có thể nói, hình tượng con khỉ hiện diện ở nhiều phương diện của cuộc sống, có mặt tích cực cũng có mặt tiêu cực nhưng trên hết, nó mang lại cái nhìn hài hước, lạc quan, có lẽ là do đặc tính thông minh nhưng tinh nghịch của loài vật này.
Năm mới nghĩ về linh vật Việt - ảnh 3
Bộ tượng khỉ “Tam không” (chất liệu đá), thời Lý mang ý nghĩa không nhìn điều sai, không nghe điều tầm bậy, không nói điều sai trái. Người xưa tin rằng, linh vật là hiện thân của các lực lượng tự nhiên hoặc mang những đặc tính huyền bí, năng lực siêu nhiên có thể chi phối nhân sinh, vũ trụ. (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Trong văn hóa Ấn Độ, khỉ được xem như một người bạn của con người. Ngay tại thủ đô Delhi khỉ sống thành từng bầy đông đúc bên cạnh con người. Đôi khi người dân Delhi cũng gặp nhiều điều phiền toái do chúng gây ra nhưng hầu như không ai đánh đuổi mà còn cho chúng ăn hàng ngày. Theo quan niệm của người Ấn Độ, khỉ là hiện thân của một vị thần đáng trân trọng: Hanuman – vị thần mình người mặt khỉ, tuy xấu xí nhưng tốt bụng và là người bạn trung thành của Rama trong sử thi Ramayana. Biểu tượng của thần Hanuman được trang trí trên nhiều ngôi đền Hindu với hình ảnh Hanuman mang bên mình gada (một vật biểu tượng và cũng là một loại vũ khí lợi hại). Biểu tượng Hanuman với gada bên mình dường như được lặp lại trong “Tây Du Ký” của Ngô Thừa Ân (Trung Quốc) với hình ảnh Tề Thiên Đại Thánh biến hóa khôn lường với cây gậy “như ý” luôn được cài trên tai.
Hay là vậy, tài là vậy, nhưng loài khỉ ở Trung Quốc không được may mắn như ở Ấn Độ vì người Trung Quốc rất ưa chuộng thịt khỉ và khi ăn xong, bộ xương khỉ sẽ dùng để nấu “cao khỉ.” Khỉ bị giết thịt, nấu cao thường xuyên nên số lượng cá thể khỉ ở Trung Quốc giảm đi nhanh chóng. Nhiều loài đã bị tuyệt chủng và cũng nhiều loài đang nằm trong ‘sách đỏ” quốc tế. Nhiều người Trung Quốc còn đặc biệt thích món “não hầu” (腦猴) tức món óc khỉ sống! Khi ăn món này, người ta trói chú khỉ đang còn sống dưới bàn và cho nhô chỏm đầu lên. Người phục vụ sẽ chém một nhát bay chỏm đầu và người ăn sẽ dùng thìa múc não khỉ còn tươi nguyên để ăn. Trong bữa tiệc xuân năm Giáp Tuất (1874), Từ Hi Thái Hậu đã khoản đãi các phái đoàn phương tây món này như một món “sơn hào hải vị” cao cấp nhất. Món ăn man rợ này bị cả thế giới lên án. Hy vọng rằng, những lời kêu gọi từ các tổ chức bảo vệ động vật thế giới sẽ được nhà nước Trung Quốc lưu tâm để loài vật đáng yêu này không còn bị tàn sát.
CTV - TS. Đinh Hồng Hải
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác