Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng Việt Nam

(Cinet)- Cũng như các ngành nghề khác, hệ thống bảo tàng Việt Nam nói riêng, lĩnh vực di sản văn hóa nói chung cần có nguồn nhân lực chất lượng để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

Nguồn nhân lực là nguồn lực “nội sinh”, là nhân tố quyết định đối với quá trình phát triển và hiệu quả hoạt động của mỗi tổ chức, đơn vị. Với đặc thù là thiết chế văn hóa đa ngành, đa lĩnh vực, nguồn nhân lực bảo tàng phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa hoạt động theo xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức. Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng và nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển càng rõ nét hơn, đòi hỏi việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực bảo tàng phải được coi là vấn đề quan trọng, cấp thiết.
 
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng Việt Nam - ảnh 1
Về cơ bản, nguồn nhân lực bảo tàng đã hình thành được một đội ngũ cán bộ chuyên môn đông đảo, được đào tạo có hệ thống. Ảnh minh họa. Nguồn:baotangchungtichchientranh.vn

Thực trạng nguồn nhân lực bảo tàng Việt Nam

Hiện nay nước ta có 154 bảo tàng, trong đó có 123 bảo tàng công lập, 31 bảo tàng ngoài công lập, có bảo tàng có thể sánh được với các bảo tàng của các quốc gia có sự nghiệp bảo tàng phát triển. Về nguồn nhân lực, đã hình thành được một đội ngũ cán bộ chuyên môn đông đảo, được đào tạo có hệ thống, với hơn 2300 công chức, viên chức và người lao động, trong đó có hơn 1800 người có trình độ đại học, 200 người có trình độ trên đại học, một số cán bộ quản lý và chuyên môn của bảo tàng có học hàm, học vị cao. Đội ngũ cán bộ này đã tiếp cận được với những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo tàng ở các khâu công tác trưng bày, tiếp cận công chúng và hội nhập với các bảo tàng trên thế giới và khu vực.

Trong nhiều năm trở lại đây, không thể phủ nhận nỗ lực của đại đa số cán bộ bảo tàng Việt Nam đã tự học hỏi vươn lên để tạo dựng nên những thiết chế văn hóa là những điểm đến hấp dẫn đối với du khách như: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam… Đây là con số chưa nhiều về sự thành công nhưng so với vài chục năm trước đã tạo nên dấu ấn thương hiệu mà không nhiều quốc gia đang phát triển có được.
 
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng Việt Nam - ảnh 2
Tuy nhiên chúng ta vẫn thiếu những chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu và cần có sự hỗ trợ từ bạn bè quốc tế. Ảnh minh họa. Nguồn: baotanglichsu.vn

Tuy nhiên chúng ta cũng tự nhận thấy đội ngũ cán bộ của bảo tàng còn rất thiếu, trình độ không đồng đều, nhiều nơi còn yếu nhất là về trình độ ngoại ngữ và khả năng cập nhật sự phát triển của khoa học bảo tàng nên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế trên lĩnh vực này.

Nhìn tổng thể có thể thấy, chất lượng đào tạo cán bộ, cơ cấu nguồn nhân lực theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên sâu của bảo tàng, phân bố nguồn lực theo vùng miền và địa phương chưa phù hợp (miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc còn quá mỏng) chưa đáp ứng được nhu cầu hoạt động và phát triển của mạng lưới bảo tàng cả nước.

Mặt khác, chúng ta đã, đang thiếu trầm trọng các chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu về sử học, nhân học, văn hóa học, nghệ thuật học (bao gồm cả lý luận và phê bình), các cán bộ giỏi trong các lĩnh vực chuyên môn bảo tàng và các lĩnh vực chuyên môn khác như thiết kế trưng bày, thiết kế đồ họa, marketing… Có sự chênh lệch lớn về đào tạo nguồn nhân lực giữa các bảo tàng đầu hệ với các bảo tàng tỉnh, thành phố, giữa đào tạo cơ bản và đào tạo nâng cao, giữa đào tạo trong nước và nước ngoài…

Những yêu cầu cấp thiết

Việc đào tạo con người phát triển toàn diện, hoàn thiện các chuẩn mực giá trị của con người Việt Nam và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đã trở thành nhu cầu bức thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Ngày nay, sự bùng nổ bảo tàng đã và đang diễn ra ở từng quốc gia, dân tộc cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Chỉ trong vòng 20 năm trở lại đây, số lượng các bảo tàng trên thế giới đã tăng gấp đôi, từ khoảng gần 30.000 lên đến trên 60.000 bảo tàng. Bên cạnh đó, các thiết chế văn hóa khác, các loại hình dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí cũng tăng lên đáng kể. Đây thực sự là sức ép rất lớn với tất cả những ai làm công tác quản lý các bảo tàng cũng như trực tiếp tham gia các hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng.
 
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng Việt Nam - ảnh 3
 
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng Việt Nam - ảnh 4
Vì vậy cần đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng tiêu chuẩn và yêu cầu thực tiễn. Ảnh minh họa. Nguồn: baotanglichsu.vn

Hơn thế nữa, nhu cầu xã hội đối với bảo tàng cũng thay đổi rất nhanh chóng, nhiều nhu cầu mới liên tiếp xuất hiện. Các nhu cầu đó lại xuất phát từ công chúng, khách tham quan - những người trực tiếp sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của bảo tàng. Trong thời đại kinh tế tri thức, yêu cầu của công chúng cũng ngày càng cao và khắt khe hơn. Như vậy, người sản xuất ra sản phẩm bảo tàng, người cũng cấp dịch vụ bảo tàng muốn theo kịp trình độ dân trí và nhu cầu khách tham quan thì nhất thiết phải được đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho xứng đáng.

Ngoài ra, những thành tựu mới, những thay đổi trong quan niệm bảo tàng học hiện đại cũng đặt ra yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho phát triển bảo tàng. Bởi theo lý thuyết bảo tàng học mới, các bảo tàng không chỉ hoạt động với tư cách là những “thiết chế văn hóa đặc thù” – nơi nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản trưng bày và phát huy giá trị các bộ sưu tập hiện vật gốc – những bằng chứng vật thể và phi vật thể mà còn là một “không gian công cộng” - nơi công chúng được giao tiếp, trải nghiệm văn hóa, trực tiếp thực hành và giới thiệu sinh động các giá trị văn hóa do chính họ nắm giữ.

Định hướng phát triển nguồn nhân lực

Tại Hội nghị “Phát triển nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng Việt Nam” diễn ra ngày 22/9 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên đã nhấn mạnh: “Trong tương lai, Việt Nam là một trong những nước sẽ xây dựng nhiều bảo tàng hiện đại. Để quản lý và vận hành có hiệu quả các bảo tàng ấy thì việc định hướng phát triển nguồn nhân lực bảo tàng Việt Nam bây giờ mới đặt ra đã là muộn, nhưng muộn mà chuẩn bị tốt còn hơn không làm gì cả và nhất định chúng ta sẽ thành công”.

Phát triển nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực về các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ cơ cấu nguồn nhân lực. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực bảo tàng là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính chuyên nghiệp, tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn nghề nghiệp của mình, thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách tốt hơn cũng như nâng cao khả năng thích ứng với các công việc trong tương lai. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để hệ thông bảo tàng Việt Nam và các thành viên trong hệ thống tồn tại và phát triển trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước.
 
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống bảo tàng Việt Nam - ảnh 5
Đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bảo tàng. Ảnh minh họa.
Nguồn: baotanglichsu.vn

Định hướng phát triển nguồn nhân lực bảo tàng Việt Nam cho hiện tại và tương lai trước hết cần đảm bảo yêu cầu cơ bản chung: có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp và nhân cách tốt, có tri thức, kỹ năng thực hành mọi hoạt động của bảo tàng và có khả năng cập nhật thường xuyên những thành tựu mới nhất của bảo tàng học thế giới. Là thành viên ICOM, các bảo tàng hoàn toàn có quyền sử dụng và vận dụng hướng dẫn của ICOM về phát triển nguồn nhân lực bảo tàng với 5 nội dung gồm: năng lực nói chung (kỹ năng và tri thức về công tác truyền thông, truyền thông liên văn hóa, phân tích dữ liệu, thiết kế dự án…); năng lực trong lĩnh vực bảo tàng học; năng lực quản lý; năng lực lập chương trình công chúng; năng lực chăm sóc, quản lý thông tin và các sưu tập hiện vật.

Ngoài ra, đối với thực tế hệ thống bảo tàng Việt Nam, trước hết cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực bảo tàng với những định hướng, lộ trình cụ thể nhằm từng bước hình thành nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng; đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực bảo tàng tương ứng với tiêu chuẩn chức danh quản lý và tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ trong lĩnh vực bảo tàng, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và yêu cầu của từng hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu trong bảo tàng; gắn kết thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả giữa các cơ sở đào tạo với các bảo tàng trong quá trình triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm thực hiện tốt phương châm “học đi đôi với hành”; xây dựng và thực hiện có hiệu quả cơ chế thu hút nhân tài, đãi ngộ và sử dụng nhân lực trong lĩnh vực bảo tàng; tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực bảo tàng; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn nhân lực bảo tàng trong hệ thống dữ liệu nguồn nhân lực ngành di sản văn hóa nói chung để làm cơ sở, căn cứ đề xuất kịp thời với các cơ quan quản lý nhà nước hoạch định chính sách, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu và định hướng chung cho toàn ngành.

Trong thời đại ngày nay, bảo tàng nói riêng, di sản văn hóa nói chung đang trở thành một động lực quan trọng để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch. Đã đến lúc chúng ta phải đánh thức được mọi nguồn lực xã hội vào cuộc và thay đổi nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của bảo tàng - trong đó có nguồn nhân lực. Hy vọng trong tương lai không xa, ngành bảo tàng Việt Nam sẽ có đội ngũ cán bộ tài năng, đủ năng lực quản lý và vận hành các thiết chế bảo tàng hiện đại nhất của quốc gia ngang tầm với các bảo tàng trong khu vực và trên thế giới.

Kiều Hưng
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác