Nguồn nhân lực ngành VHTTDL trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, cùng với sự nghiệp CNH, HĐH trong nước, để phát triển kinh tế-xã hội, trong đó có phát triển văn hóa, thể thao và du lịch, là vấn đề hết sức cần thiết.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, chỉ phát triển bền vững khi xác lập được cơ chế phát triển và tạo được nguồn lực phát triển mạnh mẽ, mà quan trọng nhất là nguồn lực con người.

Nguồn nhân lực ngành VHTTDL trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. - ảnh 1
Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện trao bằng khen cho các nghệ sĩ có các tác phẩm tiêu biểu 
trong năm 2015-2016. Ảnh: Gia Linh.

Cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học trên thế giới, có những bước tiến nhảy vọt, tác động tới tất cả các lĩnh vực và các quốc gia, làm biến đổi đời sống vật chất và tinh thần của xã hội.
Cùng với đó, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ hơn, vừa tạo cơ hội và thách thức.
Giao lưu và hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội đang diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, nhưng cũng là cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc. Thậm chí, có thể tạo ra những biến đổi lớn về diện mạo, đặc điểm, loại hình văn nghệ với hai mặt cả tiêu cực và tích cực đến đời sống xã hội và công chúng.
Để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, các quốc gia đều nhận thức được vai trò, vị trí hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ để có thể đáp ứng hiệu quả hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta có thể kế thừa và rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt. Vì vậy, nhiệm vụ phải đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, vừa có bản lĩnh chính trị, thấm nhuần bản sắc văn hóa, vừa có năng lực chuyên môn đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau.
Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực trở thành nguồn lực đầu tiên để phát triển kinh tế-xã hội. Sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực, kể cả lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch, tuy dựa vào các lợi thế so sánh khác biệt về tài nguyên và các nguồn lực tự tạo khác, nhưng suy cho cùng vẫn là sự cạnh tranh về sức mạnh nhân tài, sức mạnh của nguồn nhân lực. Tập tring phát triển nguồn nhân lực sẽ làm cho số lượng nhân lực tăng lên, chất lượng nguồn nhân lực ngày một tốt lên và cơ cấu nhân lực ngày một hợp lý cả về độ tuổi, trình độ đào tạo, lĩnh vực hoạt động và vùng miền. Nhờ thế các tiềm lực của con người trở nên có ích; năng lượng của con người trở nên có hiệu suất cao; hiệu quả làm việc được nâng lên; những tài năng thật sự được hình thành, khơi dạy và phát triển; năng lực và kỹ năng làm việc của nhân lực được tăng cường. Chính nguồn nhân lực như vậy sẽ giải quyết được hai vấn đề rất bức xúc hiện nay: Một là các nguồn lực ngày càng khan hiếm, môi trường ngày càng suy giảm và thứ hai là sự bùng nổ dân số cùng với sự gia tăng các nhu cầu.
2. Vai trò của nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức bao gồm cả quá trình phát triển kinh tế-kỹ thuật và phát triển văn hóa-xã hội theo hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng thì nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch, phải là nhân tố quyết định. Bởi nhân tố con người là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá tinh thần. Phải có sự thay đổi sâu sắc cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động của con người và coi việc bồi dưỡng phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một cuộc cách mạng.

Nguồn nhân lực ngành VHTTDL trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. - ảnh 2Giao lưu và hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội đang diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, nhưng cũng là cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc. Ảnh: SGGP

Nhân lực ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch là tổng hợp những chủ thể hoạt động trong từng lĩnh vực, khối ngành như văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch, nhưng không phải là tập hợp giản đơn số lượng các cá nhân hoặc tập thể mà là sự tổng hợp của chỉnh thể nhân lực trong hành động tạo thành một sức mạnh tập thể. Sức mạnh đó bắt nguồn trước hết là những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi chủ thể và được nhân lên gấp bội trong hoạt động thực tiễn về văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch. Vì vậy khi nói nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch với tính cách là động lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nói đến những phẩm chất tích cực của tổng hợp những chủ thể được bộc lộ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy quá trình này vận động phát triển, thể hiện mặt tích cực, đồng thời hạn chế tối đa mặt tiêu cực, hạn chế của nguồn nhân lực.
Để xem xét, đánh giá đúng vai trò của nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch, cần đặt trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác, mức độ chi phối đến sự thành bại của quá trình phát triển văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch nói riêng và của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và công cuộc đổi mới đất nước nói chung. Khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghiệp hiện đại phát triển mạnh mẽ thì lao động có trí tuệ có văn hóa và có tay nghề cao ngày càng gia tăng và trở thành xu thế phổ biến của nhân loại. Với cách tiếp cận như vậy, khi công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá, mà thực chất là hiện đại hoá lực lượng sản xuất, thì vai trò quyết định của nguồn lực con người được biểu hiện ở tính quyết định, tính vô tận, tính cải biến và tính hoạch định.
Tính quyết định của nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch thể hiện ở chỗ: nguồn nhân lực là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí, biết lợi dụng và khai thác các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Như vậy có thể khẳng định: Nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch nói riêng là chủ thể, còn các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con người và phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người. Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực (lực lượng lao động) là yếu tố quan trọng nhất.
Tính vô tận của nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch: Các nguồn lực khác chỉ có hạn, có thể bị cạn kiệt khi khai thác và không thể khôi phục. Trong khi đó nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ, văn hóa là nguồn lực vô tận. Tính vô tận của sức mạnh nền văn hóa mỗi dân tộc, của trí tuệ, thể lực và văn hóa của con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tái sinh mà còn tự sản sinh về mặt sinh học và còn luôn đổi mới không ngừng phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác, sửu dụng một cách hợp lý. Đó là cơ sở làm cho nhận thức và năng lực  hoạt động thực tiễn của nguồn nhân lực phát triển như một quá trình vô tận cả về bình diện một cộng đồng và bình diện toàn nhân loại.
Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường trên bình diện toàn cầu, con người không chỉ nhận được sự tích cực, mà còn cả những tác động tiêu cực của nó. Tiến trình này đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ phải cần cù, trung thành… mà điều quan trọng hơn là trí tuệ khoa học, ý chí chiến thắng cái nghèo nàn lạc hậu, tính năng động luôn thích ứng với hoàn cảnh, ý thức kỷ luật, bản lĩnh lãnh đạo, nghệ thuật quản lý, kỹ thuật kinh doanh… Như vậy trong điều kiện mới cần bồi dưỡng nguồn nhân lực về mọi mặt cả về trí tuệ, thể chất và văn hóa. Điều này thể hiện vai trò đặ điệt quan trọng của nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch trong việc làm tăng tính vô tận của nguồn nhân lực của đất nước.
Tính cải biến của nguồn nhân lực văn hóa, thể thoa và du lịch thể hiện ở chỗ: Tri thức, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại đang hình thành một nền kinh tế mới là kinh tế tri thức. Bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến sự biến đổi thần kỳ của mình.
Tính hoạch định của nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch: Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào hoạch định đường lối chính sách cũng như tổ chức thực hiện nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Vai trò của nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch (bao gồm cả nhân lực là trí thức và nhân lực là lao động trực tiếp) trong việc bảo tồn, phát huy, phát triển và truyền bá văn hóa ngày càng được khẳng định. Đội ngũ nhân lực nói chung và nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch nói riêng phải có trách nhiệm dự báo, sáng tạo, dẫn dắt và hướng dẫn cộng đồng, làm cho nhân dân trở thành lực lượng sáng tạo văn hóa chứ không chỉ là đối tượng hưởng thụ văn hóa. Trong lĩnh vực sản xuất, bao gồm cả hoạt động gắn liền với sáng tạo phát triển văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch và hoạt động sáng tạo trong sản xuất ở các lĩnh vực còn lại, đội ngũ nhân lực ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải là lực lượng xung kích, giúp đỡ, hướng dẫn nhân dân nắm được và ứng dụng khoa học và công nghệ vào công việc; bám sát đời sống thực tiễn, bám vào cơ sở sản xuất kinh doanh, tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao trí tuệ và thể chất cho nhân dân, làm cho dân giàu, tạo điều kiện hội nhập, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
3. Nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch
Nhân lực ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch là một bộ phận tích cực trong sự nghiệp đổi mới. Với nhiệm vụ ngày càng quan trọng trong sáng tạo văn hóa, giữ vững nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy bản sắc dân tộc trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trong phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế-xã hội như một lực lượng sản xuất trực tiếp; và trong lãnh đạo, quản lý đất nước, điều hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.   

Nguồn nhân lực ngành VHTTDL trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. - ảnh 3Khai mạc cuộc thi “Tài năng trẻ Diễn viên sân khấu Cải lương và Dân ca kịch chuyên nghiệp”  toàn quốc 2017. Ảnh Cinet

Trong sáng tạo văn hóa, giữ vững nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy bản sắc dân tộc trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Nhân lực ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đóng vai trò tiên phong trong sáng tạo văn hóa, giữ vững nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và toàn diện, vùa là chủ thể có khả năng tích hợp và phát huy toàn bộ sức mạnh nội sinh của văn hóa dân tộc, vừa là khách thể tiếp nhận và phát huy những tinh hoa văn hóa thế giới.
Đây là nguồn nhân lực, có vai trò giữ “hồn cốt” của dân tộc và bảo tồn, phát huy, quảng bá “hồn cốt” của dân tộc đến khắp mọi miền đất nước và ra thế giới.
Trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhịp sống hàng ngày thay đổi thì việc nghiên cứu đề xuất các thiết chế, mô hình văn hóa mới ở các khu công nghiệp, các đô thị lớn đang là vấn đề bức xúc.Vai trò của trí thức và người lao động của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ ngày càng được coi trọng và rất cần thiết.
Điều cốt lõi của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội là sự phát triển bền vững, bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội. Cả ba trụ cột này đều được xây dựng trên nền tảng văn hóa và phụ thuộc vào nhân tố chính của các hoạt động xã hội - đó chính là nguồn nhân lực.
Trong phát triển lực lượng sản xuất: Hiện nay, vốn nhân lực có tri thức cao, tay nghề giỏi đã trở thành nhân tố quan trọng nhất. Muốn vậy, nhân lực ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải sửa đổi lối làm việc, áp dụng công nghệ mới, nâng cao tay nghề của công chức, viên chức và người lao động trong ngành, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động của ngành với phát triển kinh tế-xã hội, giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, giữa trí thức với công nhân và nông dân có tri thức cao.
Đội ngũ nhân lực của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong khối doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp có thu, phải là một lực lượng sản xuất trong toàn bộ cơ cấu của hệ thống đa ngành văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch và từng lĩnh vực chuyên ngành. Bên cạnh coi trọng vai trò của nhân lực làm việc ở tầm vĩ mô, xây dựng hoạch định chiến lược phát triển văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch cũng không xem nhẹ vai trò của người lao động làm việc trực tiếp trong hoạt động sản xuất, sáng tạo văn hóa và dịch vụ gia đình, thể thao giải trí, du lịch, vì các hoạt động của bất cứ lĩnh vực nào cũng phải dựa vào chất xám và tay nghề. Nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Bên cạnh việc phát triển lực lượng sản xuất của Ngành, nhân lực của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn có nhiệm vụ góp phần phát triển nhân lực của đất nước thông qua hoạt động văn hóa nghệ thuật, quản lý nhà nước về gia đình, thể dục thể thao và du lịch; đảm bảo cho nhân lực của đất nước có văn hóa, có thể lực tốt và đất nước có nhiều gia đình bền vững. Như vậy vai trò nguồn nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch càng có ý nghĩa lớn lao.
Trong lãnh đạo và quản lý đất nước, điều hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Vai trò của của nhân lực văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch, đi đầu là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức trí thức từ trung ương đến địa phương, trong lãnh đạo, quản lý và điều hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành và đất nước thể hiện rõ nhất trong quá trình quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch, trong hoạt động sự nghiệp nghiên cứu và đào tạo, trong quản trị doanh nghiệp và hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu. Trong lãnh đạo ngành, những nhân lực là người lãnh đạo các cấp đóng vai trò quyết định khi ra các quyết định với hàm lượng chất xám cao, góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch nói riêng và quản lý xã hội, quản lý nhà nước nói chung. Trong quản lý ngành, nhân lực hoạt động trong văn hóa nghệ thuật, gia đình, thể dục thể thao và du lịch được giao những trọng trách lãnh đạo, biến kiến thức chuyên môn thành trí tuệ của người lãnh đạo.
Trong thời đại toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, nếu không có lực lượng lao động chất lượng cao và sáng tạo, không có đội ngũ quản lý quốc gia, quản lý doanh nghiệp giỏi thì không thể phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững. Lấy tính sáng tạo và hiệu quả công việc làm thước đo trình độ chứ không phải là bằng cấp một cách hình thức. Xây dựng đội ngũ giáo viên, hệ thống giáo trình,  đạt chuẩn quốc tế, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa trường học, viện và trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ với các doanh nghiệp./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Bài tham luận tại Hội thảo “Cải cách hành chính dành cho các nước châu Á”, Bộ Thương mại Trung Quốc tổ chức từ ngày 03-22/4/2008, Xiao Mingzheng -Trường Đại học Bắc Kinh Người dịch Nguyễn Diệu Tú - Viện Nghiên cứu hành chính, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh dịch và biên tập.

2.      Báo cáo tổng hợp đề án” Xây dựng chiến lược phát triển đất nước  thời kỳ đến năm 2020, tầm nhìn 2045” của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch-Đầu tư, tháng 5/2009.

3.      Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ).

4.      Dự báo Thế kỷ 21, Nhà xuất bản Thống kê, năm 1998.

5.      Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 2011-2020( Ngày 8/5/2009) để xin ý kiến, Viện Chiến lược phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

6.      Khách hàng chưa phải là thượng đế, Hal F.Rosenbluth, Diane McFerrin Peters, bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Tri thức, năm 2009.

7.      Khoa học-Văn hóa-Phát triển. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1993.

8.      Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2006, trang 93.

 TS Lê Thu Hiền – Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ VHTTDL
Nguồn Bản tin Tham khảo VHTTDL Quốc tế số đặc biệt

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác