Phục dựng vốn cổ: Không chỉ nhiệt huyết mà cả “chiến lược”

Ca trù, hát xoan, quan họ, hát bài chòi... đã một thời ngậm ngùi mai một theo năm tháng. Những năm 90 trở về trước có thể xem là “cái mốc” cho giai đoạn buồn tẻ của các hình thức văn nghệ dân gian kia. Nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, người ta thấy rõ mồn một sự hồi sinh rồi “đơm hoa kết trái” của từng thể loại giữa bộn bề sắc màu của làng giải trí đương đại.

Phục dựng vốn cổ: Không chỉ nhiệt huyết mà cả “chiến lược” - ảnh 1

Không chỉ là sự quan tâm đúng mức cho vốn cổ mà song hành với nó là cả những “chiến lược” bài bản của những người có tâm với văn hóa dân gian. Chính vì thế mà văn hóa dân gian đã bước qua một giai đoạn “thần kỳ” cùng “Tầm nhìn 2010” để tự tin “Vươn tới tầm cao mới”.

“Tầm nhìn 2010” đã phục sinh vốn cổ

Hơn 10 năm qua, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam ( HVNDG) ngày càng có nhiều đóng góp tích cực trong việc sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các di sản thuộc các loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian của các dân tộc, đưa chúng ta khỏi nguy cơ mai một, rồi khôi phục và duy trì kịp thời. Thành quả đáng chú ý nhất mà Hội làm được trong 5 năm vừa rồi (2005 – 2010) là thực hiện kế hoạch “Tầm nhìn 2010”. Ngoái lại nhìn một chặng đường không dài kia có thể thấy, những người tâm huyết với văn hóa dân gian đã lên kế hoạch “Tầm nhìn 2010” ngay từ năm 2002 – 2003 với các mục tiêu: Tổng kiểm kê thực trạng của di sản văn hóa văn nghệ dân gian và lên danh mục các vị nghệ nhân đầu đàn còn sống để tôn vinh và phục vụ công tác truyền dạy. Cặm cụi và mày mò cho đến cuối năm 2009 đã có trên 30 tỉnh hoàn thành kế hoạch này và kết quả là cuốn sách “Tổng kiểm kê di sản văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam” (tập I) đã ra đời với các thông tin quý giá.
Bên cạnh đó, việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy vốn văn hóa văn nghệ dân gian đã được duy trì và phát huy khá hiệu quả. Nhiều hình thức, nghi lễ văn hoá dân gian đã được khôi phục và truyền dạy như: Chèo tàu, hát dô, hò cửa đình và múa bài bông, ca trù Ngãi Cầu (Hà Nội), lễ cấp sắc Dao, lễ lên nhà mới Tày (Thái Nguyên)... Cũng trong 5 năm ấy, HVNDG nhận được 400 công trình nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn văn hóa văn nghệ dân gian có giá trị. Trong đó, đáng lưu ý là cụm công trình về văn hóa dân gian tộc Mường ở Sơn La, cụm công trình về văn hóa dân gian tộc người Rắc Glây, công trình về đờn ca tài tử Nam Bộ, văn hóa văn nghệ dân gian dân tộc Khmer... Đặc biệt là công trình ghi âm, ghi hình toàn bộ 13 đêm diễn xướng “Đẻ đất - đẻ nước”, được lưu trong 70 đĩa hình DVD của nhà nghiên cứu quá cố Bùi Chỉ. Sự xuất hiện các cụm công trình và các tác giả là sự khởi sắc, đánh dấu bước chuyển biến về chất trong trình độ nghề nghiệp cũng như trong đội ngũ hội viên của HVNDG Việt Nam.
Di sản văn hóa văn nghệ dân gian được tồn tại dưới dạng văn hóa phi vật thể, chuyển giao giữa các thế hệ bằng truyền miệng, do vậy, sự sống còn của các di sản này phải được dựa vào lực lượng nghệ nhân. Tuy vậy, trước những năm 90 của thế kỷ trước, công tác truyền dạy không được quan tâm đúng mức, nên số nghệ nhân còn lại cũng “như lá mùa Thu”. Từ kết quả của “Tầm nhìn 2010”, Hội đã phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian” cho 120 người. Phong tặng danh hiệu nghệ nhân dân gian lại là một việc làm có ý nghĩa đạo lý sâu sắc, mang đậm chất nhân văn. Thực tế cho thấy, những nơi có nghệ nhân được phong tặng danh hiệu, vốn di sản văn hoá của địa phương đều được khôi phục, thực hành, truyền dạy và duy trì tốt. Có thể kể tới 105 di sản thuộc các loại hình văn hóa văn nghệ dân gian của các dân tộc Việt Nam thoát khỏi nguy cơ mai một, được khôi phục và duy trì dưới sự dẫn dắt, truyền dạy hết lòng của các nghệ nhân.
Tự tin “Vươn tới tầm cao mới”

Đi qua “Tầm nhìn 2010” với sự hài lòng, HVNDG lại vừa đề ra kế hoạch “Vươn tới tầm cao mới” cho giai đoạn 2010 – 2015. Họ sẽ tiếp tục phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”, đào tạo nghề nghiệp cho hội viên và cộng tác viên trẻ, đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa – văn nghệ dân gian. Song song với đó, để có thể tiếp tục những dự án đang dang dở, đặc biệt là dự án tâm điểm Tổng kiểm kê di sản văn hóa văn nghệ dân gian, ban chấp hành HVNDG đã đánh dấu đỏ cho nhiệm vụ tìm kiếm, khai thác những nguồn kinh phí khả dĩ, trong đó chú trọng đầu tư vào vốn di sản văn hóa, văn nghệ các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Tiếp tục đảm đương nhiệm vụ Chủ tịch Hội là GS-TSKH Tô Ngọc Thanh – một người đã nhiều năm dồn tâm sức cho văn nghệ dân gian Việt Nam. Yếu tố ấy cũng là một phần quan trọng để văn nghệ dân gian có thể tự tin vào sự khởi sắc của quá trình phục dựng vốn cổ.

 

Theo KTĐT

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác