Quảng bá lễ hội truyền thống của Việt Nam ra thế giới phải giữ được nét truyền thống vốn có của di sản

Vừa qua, lễ hội Gióng - lễ hội dân gian đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây là niềm tự hào của người dân Việt Nam, tuy nhiên nó cũng đặt ra những thách thức đối với việc bảo tồn một di sản mang giá trị nguyên bản độc đáo như hội Gióng.

Hình ảnh tại lễ hội GióngHình ảnh tại lễ hội Gióng

Lễ hội mang giá trị nguyên bản độc đáo

Theo truyền thuyết, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) là nơi cuối cùng Thánh Gióng dừng chân trước khi về trời, nên hàng năm cứ vào ngày mồng 6 tháng Giêng (âm lịch), dân làng ở đây mở hội tại Khu di tích đền Sóc thờ Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương. Hội Gióng được tổ chức hàng năm để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của một người anh hùng bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam - Thánh Gióng. Có 2 hội Gióng tiêu biểu ở Hà Nội là hội Gióng Sóc Sơn ở đền Sóc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn và hội Gióng Phù Đổng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm vừa qua đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Điểm nổi bật của hội Gióng là lễ hội được tổ chức ở nhiều nơi trên địa bàn Hà Nội với nhiều nghi lễ khác nhau như: hội Gióng Bộ Đầu xã Bộ Đầu, huyện Thường Tín; lễ hội thờ Thánh Gióng ở các làng Đặng Xá, Lệ Chi (huyện Gia Lâm); các làng Phù Lỗ Đoài, Thanh Nhàn, Xuân Lai (huyện Sóc Sơn); Sơn Du, Cán Khê, Đống Đồ (huyện Đông Anh); Xuân Tảo (huyện Từ Liêm); làng Hội Xá (Quận Long Biên) từ ngày mồng 6/4 đến 12/4 (âm lịch).

Thánh Gióng là vị thần bất tử trong cõi tâm linh của người dân Sóc Sơn nói riêng và của người dân Việt Nam nói chung. Thánh Gióng còn là biểu tượng của lòng dùng cảm, sức mạnh phi thường, tình yêu đất nước của nhân dân ta. Giá trị nổi bật của lễ hội Gióng chính là một lễ hội văn hóa được bảo tồn một cách toàn vẹn qua nhiều thế hệ.

Nói hội Gióng giữ được giá trị nguyên bản bởi nó mô phỏng một cách sinh động và khoa học diễn biến các trận đấu của thánh Gióng và người dân Văn Lang với giặc Ân. Lễ hội được tổ chức với đầy đủ các nghi lễ truyền thống tùy từng vùng như: lễ khai quang, các lễ rước, lễ dâng hương, dâng hoa tre lên đền Thượng (nơi thờ Thánh Gióng)... Trong Hội Gióng còn có diễn xướng dân gian, liên quan đến múa hát ải lao, múa hồ... và diễn xướng, cũng có các màn hát Chèo để mừng thắng trận, lễ khao quân và các trò chơi dân gian. Đây là lễ hội có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân nên không ngại người dân lãng quên nó. Mặc dù, trải qua một khoảng thời gian dài với nhiều biến động của lịch sử nhưng Hội Gióng vẫn được người dân tổ chức mỗi năm 1 lần với đầy đủ các nghi lễ. GS Tô Ngọc Thanh , Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã khẳng định: “Các lễ hội khác tôi không nói, nhưng riêng về hội Gióng tôi cho rằng dù không được UNESCO công nhận thì nó vẫn đứng vững, vẫn được người dân giữ gìn và lưu truyền một cách đầy đủ. Có được điều này là bởi hình ảnh Thánh Gióng đã đi vào tâm thức của người dân nơi đây bao nhiêu đời nay”.

Lễ hội Gióng không đơn thuần là ngày hội mà nó còn mang ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, ý chí quật cường, tình yêu tự do, truyền thống võ công của dân tộc mà còn mang ý nghĩa lớn trong đời sống tâm linh của nhân dân. Chính vì vậy mà trong dân gian có câu ca dao rằng:

“Ai ơi mùng chín tháng tư

Không đi Hội gióng cũng hư mất người”

Để hội Gióng giữ được giá trị nguyên bản

Được biết, để UNESCO công nhận một di sản văn hóa là Di sản văn hóa thế giới cần có những tiêu chuẩn như: di sản phải là niềm tự hào, là biểu tượng của một vùng lãnh thổ và quan trọng là di sản ấy phải giữ được giá trị nguyên bản. Theo GS Tô Ngọc Thanh: “Giá trị nguyên bản là rất quan trọng đối với một di sản. Quốc tế công nhận một di sản văn hóa là Di sản văn hóa thế giới, điều đó cũng có nghĩa là giá trị di sản đó đã mang ý nghĩa đối với cả thế giới, vì vậy quốc gia ấy cần có trách nhiệm với nhân loại. Trách nhiệm ấy đồng nghĩa với việc phải giữ gìn, bảo vệ nguyên bản, không tô vẽ cho di sản văn hóa. UNESCO công nhận cho một di sản là Di sản văn hóa thế giới khi nó mang giá trị là một di sản chứ không phải giá trị của một đương sản. Chúng ta đang lo lắng vì sự “sao nhãng” của những người có trách nhiệm sẽ làm mất giá trị nguyên bản của di sản. Chúng ta muốn quảng bá lễ hội truyền thống của Việt Nam ra thế giới, nhưng điều quan trọng là luôn giữ được nét truyền thống vốn có của di sản. Nguy cơ làm mất nét truyền thống của một lễ hội dân gian đến từ du lịch là rất lớn. Chúng ta không nên vì mong muốn có một lễ hội “hoành tráng” mà biến đổi một lễ hội dân gian theo ý riêng của mình. Theo tôi được biết, Bộ Văn hóa đã có những quy định cụ thể trong công tác bảo vệ toàn vẹn một lễ hội dân gian và một trong những yêu cầu của UNESCO khi công nhận một di sản văn hóa là di sản đó phải giữ được toàn vẹn, nếu không sẽ thu lại bằng chứng nhận. Chính những quy định trên nhắc nhở chúng ta rằng: chỉ có quyền củng cố chứ không có quyền thay đổi nó”.
Quảng bá lễ hội truyền thống của Việt Nam ra thế giới phải giữ được nét truyền thống vốn có của di sản - ảnh 2

GS. Tô Ngọc Thanh.

Tuy nhiên, một lễ hội được công nhân là Di sản văn hóa thế giới đồng nghĩa với du lịch phát triển, vậy chúng ta cần làm gì để phát triển du lịch, giới thiệu được với bạn bè thế giới mà tránh được tình trạng thương mại hóa ở lễ hội dân gian đặc sắc này? Bên cạnh đó, các bạn trẻ hiện nay có xu hướng “hướng ngoại”, ít quan tâm và “lười” tham gia các lễ hội truyền thống. Việc giáo dục cho giới trẻ về lễ hội truyền thống là rất quan trọng bởi các em là thế hệ kế thừa những giá trị truyền thống ấy.

GS Tô Ngọc Thanh đã chia sẻ những lo ngại cũng nhưng một số giải pháp về vấn đề này: “Đối với việc giáo dục ý thức cũng như giới thiệu các nét đẹp của một lễ hội truyền thống cho giới trẻ, tôi nghĩ đây là trách nhiệm của ngành giáo dục cũng như giới truyền thông. Theo tôi được biết, trong hồ sơ trình UNESCO công nhân một di sản là Di sản văn hóa thế giới cần phải có ba phim giới thiệu về di sản văn hóa ấy. Trong đó một phim dài 1 tiếng giới thiệu rất kỹ về di sản, hai phim còn lại là những đoạn phim tóm tắt ngắn gọn hơn, một phim dài 30 phút và một phim dài 10 phút. Những bộ phim này có thể được giới thiệu cho công chúng trên các chương trình ti-vi cũng như ở các trang web, bởi đây là những thước phim rất cô đọng và có giá trị cao”.

Năm 2010, trên địa bàn Hà Nội rất vinh dự khi có tới 3 di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới: 82 Bia tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc Tử Giám được công nhận là Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới; Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản văn hóa thế giới và Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là niềm tự hào đối với chúng ta khi Hà Nội kỷ niệm 1000 năm tuổi, hy vọng lãnh đạo TP. Hà Nội, các cơ quan hữu quan, các nhà quản lý, nghiên cứu văn hóa di sản sẽ có những giải pháp tối ưu nhất để bảo tồn và phát huy giá trị của hội Gióng nói riêng và các di sản văn hóa nói chung.

 

Theo ĐCS

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác