​Soạn giả Mịch Quang: Nửa thế kỷ cống hiến cho nghệ thuật dân tộc

(Cinet) - Mịch nghệ thuật tinh hoa/Quang dân tộc bản sắc (Tạm dịch là Đi tìm tinh hoa nghệ thuật/Làm sáng bản sắc dân tộc) – trích câu thơ PGS Tất Thắng viết tặng soạn giả Mịch Quang.

Dù đã bước sang tuổi 100, cái tuổi xưa nay hiếm nhưng nhà viết kịch, soạn giả Mịch Quang vẫn miệt mài nghiên cứu cống hiến cho nền sân khấu Cách mạng nước nhà.

Nửa thế kỷ tận hiến

Nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang tên thật là Nguyễn Thế Khoán, sinh ngày 01/05/1917 tại làng Phụng Sơn, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định vùng đất nổi tiếng về văn thơ và Hát Bội, nơi sản sinh và nuôi dưỡng nhiều danh nhân như Đào Duy Từ, Nguyễn Diêu, Đào Tấn… Trong cả cuộc đời dài đã đến bách niên của Mịch Quang, thời gian dành cho sự nghiệp nghiên cứu nghệ thuật dân tộc và sáng tác kịch bản tuồng có lẽ gần như chiếm trọn số tuổi đời của ông.
 
​Soạn giả Mịch Quang: Nửa thế kỷ cống hiến cho nghệ thuật dân tộc - ảnh 1
Nhà nghiên cứu Mịch Quang (trái) và GS.TS Trần Văn Khê. Nguồn: Thể thao & Văn hóa
GD Hoàng Chương –Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc cho biết, trong đại gia đình sân khấu và nghệ thuật truyền thống dân tộc, có lẽ nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang là người cao niên nhất còn trụ lại với đời và ở tuổi 100, ông đang hiện diện như một biểu tượng về sự trường tồn của nghệ thuật dân tộc.

Ngay từ thủa đầu đời, vai trò người cha trong định hướng cuộc đời và sự nghiệp của Mịch Quang đã chiếm vai trò quan trọng, là người khơi nguồn cho tình yêu nghệ thuật dân tộc của ông và chính ông, sau này cũng là người khơi nguồn tình yêu nghệ thuật truyền thống cho hàng triệu người dân Việt Nam.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, trong Hồi ký “Đời tôi trong nghệ thuật” có thể thấy quan hệ giữa cha con nhà nghiên cứu Mịch Quang, tự thân đã là nền tảng căn bản để ông kiến thiết sự nghiệp nghiên cứu nghệ thuật dân tộc của cả đời mình. Và từ chính nền tảng này đã vững chắc hình thành một phương pháp tư duy nghiên cứu đặc thù và thích hợp nhất, giúp ông biết cách “khơi nguồn mỹ học dân tộc”.

Đặc biệt, trong vòng 30 năm trở lại đây, nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang đã liên tục cho công bố những công trình quan trọng nhất trong sự nghiệp nghệ thuật của mình như: “Đặc trưng nghệ tuồng”, “Âm nhạc và sân khấu kịch hát dân tộc”, “Kinh dịch và nghệ thuật truyền thống”, “Khơi nguồn mỹ học dân tộc”, “Thanh gươm hát Bội”, “Giấc mộng hồ hoa”, “Bà mẹ làng Sen”, “Đời tôi trong nghệ thuật”…

Những công trình của ông không những có giá trị lý luận và thực tiễn với việc nghiên cứu nghệ thuật ở Việt Nam mà còn đối với các nhà nghiên cứu nghệ thuật Việt Nam trên thế giới. Thành công trong nghiên cứu và sáng tác Tuồng đã đưa Mịch Quang trở thành “bậc thầy”, trở thành “lão tướng Tuồng” - GS Trần Bảng, cuốn bách khoa toàn thư về nghệ thuật truyền thống.

Như GS Trần Văn Khê đã nhận xét “khi nghiên cứu nghệ thuật dân tộc, Mịch Quang đã có “thái độ quý trọng cổ mà không nệ cổ, mở rộng tầm hiểu biết để tiếp thu cái hay bên ngoài mà không “vọng ngoại”. (theo lá thư từ Đại Tây Dương của Trần Văn Khê gửi Mịch Quang năm 1999).
 
​Soạn giả Mịch Quang: Nửa thế kỷ cống hiến cho nghệ thuật dân tộc - ảnh 2
Hình ảnh trong vở Tuồng "Hộ sanh đàn". Ảnh: Gia Linh
Cho đến nay, nhiều phát hiện và tổng kết về nghệ thuật truyền thống dân tộc của Mịch Quang đã đi vào đời sống nghệ thuật dân tộc, trở thành tài sản chung của giới nghệ thuật học dân tộc như “hiện thực tả ý”, “phương pháp mô hình hóa”, “sân khấu tổng thể tích hợp”, “tự sự kịch kính trữ tình”…, rất nhiều người đã sử dụng nó hàng chục năm nay mà không biết đó chính là những luận điểm do Mịch Quang phát hiện và tổng kết – GS Hoàng Chương chia sẻ.
 
Không chỉ là một nhà nghiên cứu, Mịch Quang còn là một tác giả xuất sắc, có những đóng góp quý bàu trong suốt hơn nửa thế kỷ qua cho sân khấu Cách mạng. Mịch Quang đã có hơn 20 kịch bản gồm các đề tài lịch sử, dã sử, hiên đại được các đơn vị nghệ thuật sân khấu cả nước dàn dựng, biểu diễn như: “Má Tám”, “Hộp truyền đơn”, “Vua Hùng kén rể”, “Quang Trung”, “Giấc mộng hồ hoa”, “Thanh gươm hát Bội”…

Đau đáu nỗi lo phai màu dân tộc

Có lẽ, không một công trình nghiên cứu nào của Mịch Quang lại không bắt đầu từ nỗi lo mất mát hoặc phai màu dân tộc trong nghệ thuật truyền thống Việt Nam – GS.TS Nguyễn Thị Minh Thái chia sẻ.

Trong “Bài thơ năm 80 tuổi” của Mịch Quang có đoạn viết “Lo phai gốc Việt bao dàn nhạc/ Lo đậm màu Âu những khúc ca/ Lo quá mai đây trong hội nhập/ Mất ta do vọng ngoại sa đà”.
 
​Soạn giả Mịch Quang: Nửa thế kỷ cống hiến cho nghệ thuật dân tộc - ảnh 3
Biểu diễn nghệ thuật Tuồng. Ảnh minh họa. Nguồn: Trí Tín/vnexpress.net
Nỗi lo phai màu dân tộc là nỗi đau thường trực của Mịch Quang, Chính vì vậy, ông không ngừng học tập dù đã ở tuổi 80. Ông học Kinh dịch từ thầy Cao Xuân Huy, và vỡ lẽ “nghệ thuật dân tộc bị chi phối bởi cấu trúc động sinh học, khác với nghệ thuật phương Tây bị chi phối bởi cấu trúc tĩnh, cơ giới và siêu hình. Và chính từ những vỡ vạc ấy, ông đã cho ra đời hai công trình nghiên cứu có giá trị cao là “Âm nhạc và sân khấu kịch hát dân tộc” và “Kinh dịch và nghệ thuật truyền thống”. GS Hoàng Chương đánh giá “đây là bước đột phá khi Mịch Quang là người dầu tiên tổng kết và phân tích rất thấu đáo cơ sở triết học hình thành nên những đặc tính thẩm mỹ độc đáo của nghệ thuật truyền thống dân tộc.

PGS Tất Thắng trong bài viết của mình chia sẻ “Tôi vô cùng nể trọng và bái phục thầy Mịch Quang, vì ông đã dám và đã thực hiện những đề tài nghiên cứu rất học búa mà chỉ nghĩ đến thôi tôi cũng đã sợ. Tôi không tự cho mình cái quyền bàn đến những công trình lớn. Vì tôi thấy không đủ trình độ để nhận định đánh giá về chúng. Song từ đây, tôi lại thấy một hình dáng mới xuất hiện ở nhà nghiên cứu Mịch Quang ngoài diện mạo và thể chất nhà thi pháp. Đó là nhà mỹ học và nhà tư tưởng”.

Ở Mịch Quang luôn rực sáng ngọn lửa đam mê, một cá tính sáng tạo độc đáo, một chiến sĩ kiên định, triệt để bảo vệ nghệ thuật dân tộc. Nói không với cải biên, Mịch Quang dồn hết sức lực cho công cuộc tìm kiếm và bảo lưu những “di sản nghệ thuật” của dân tộc.

Với những công trình nghiên cứu quan trọng, Mịch Quang xứng đáng là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền móng của sân khấu học, nghệ thuật học, mỹ học dân tộc, đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không để văn hóa nước mình nhạt phai” – trích bài thơ của GS Hoàng Chương.

Hiện nay, dù đã ở tuổi bách niên, nhưng nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang vẫn đang tiếp tục cống hiến và bộn bề với những ý tưởng cho công trình của mình. Tất cả để thực hiện ước mơ, lẽ sống của cuộc đời – chấn hưng kịch hát dân tộc.

Sức sống và niềm đam mê mạnh liệt của ông đã tiếp thêm ngọn lửa đam mê cho lớp lớp các thế hệ nghệ sĩ sân khấu nước nhà trong bối cảnh khó khăn hiện nay. Ở đó, Mịch Quang xứng đáng là di sản sống của nghệ thuật kịch hát dân tộc.
 
Với những đóng góp của mình, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng những Giải thưởng, Huân chương lao động cao quý như: Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1999, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2016.
 
Gia Linh

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác