Thành nhà Hồ - hành trình đến di sản văn hóa thế giới

Hơn 600 năm trôi qua, sự tồn tại hy hữu của một kinh đô thực sự trong vòng 10 năm (1397-1407), thành nhà Hồ - luôn là đề tài hấp dẫn của nhiều thế hệ tiếp nối với chung một mục đích là trả lại cho nó những giá trị đích thực. Cũng ngần ấy thời gian, cùng với cái kỳ vỹ của ngôi thành còn quá nhiều sự kiện và dấu ấn lịch sử khiến cho những ai quan tâm đến vấn đề này luôn tìm lời giải đáp.

Thành nhà Hồ - hành trình đến di sản văn hóa thế giới - ảnh 1

Thành nhà Hồ do Hồ Quý Ly xây dựng năm Đinh Sửu (1397), đời vua Trần Thuận Tông (1388-1398). Ngôi thành còn có tên là Tây Đô, An Tôn, Tây Giai, nay thuộc địa phận hai xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Nơi đây đã chính thức trở thành kinh đô của nhà Trần từ năm 1398-1399, nước Đại Ngu dưới triều đại nhà Hồ (1400-1407), cùng hàng loạt các quyết sách xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ là một kinh đô - trung tâm kinh tế - chính trị- văn hóa của cả nước. Hơn nữa, toà thành còn là một tác phẩm đẹp nhất trong lịch sử kiến trúc nước ta, phản ánh trình độ xây dựng thành luỹ đạt trình độ cao, thể hiện óc sáng tạo và bàn tay lao động tài hoa của dân tộc Việt Nam

Ngôi thành được xây dựng trên một bình đồ kiến trúc gần vuông, mặt chính quay về hướng Đông Nam, với đường trục chính theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Hai tường thành phía Nam và phía Bắc dài 877m, Đông và Tây dài 880m. Thành có chu vi 3.513,4m, diện tích 769.086 m2 (khoảng 77 ha), tường thành cao trung bình từ 7- 8m thậm chí hơn 10m như ở vị trí vòm cổng. Thành có 4 cửa được mở ra từ chính giữa của bốn bức tường thành, các cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc (còn gọi là cửa Tiền, Hậu, Hữu, Tả) ở các mặt thành xây cuốn vòm. Phần vòm cửa được xây bằng các viên đá được chế tác hình múi bưởi, tạo nên phần vòm cuốn hình bán viên. Các cửa này được xây, xếp với độ chính xác cao tạo nên nét đặc sắc của tòa thành. Trong 4 cửa, cửa  phía Nam là cửa lớn nhất với chiều rộng tới 38m, cao 10m, mở 3 vòm cửa, còn các cửa khác chỉ có một vòm. Các cửa được đóng mở bởi những bộ cánh cửa phía dưới có bánh xe lăn bằng đá rất cơ bản, dày bằng gỗ lim và có then cài điều đó được thể hiện qua dấu vết để lại của những lỗ đục vào đá và lỗ cối lắp ngưỡng cửa. Hiện nay, các cánh cửa gỗ đều không còn nữa.

Một hệ thống hào dài quanh thành, rộng tới 50m và sâu vài mét cùng một hệ thống lũy đất và la thành bằng tre gai vây quanh với chu vi hàng chục km được khẩn trương xây dựng cùng hơn một km đá lát đường Hòe Nhai chạy suốt từ cửa Tiền tới Đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn. Các kiến trúc trong hoàng thành như điện Hoàng Nguyên - nơi nhà vua ngự triều; cung Nhân Thọ - chỗ Hồ Quý Ly ở; cung Phù Cực, Tây Thái miếu, núi Thổ Kỳ, hồ Dục Tượng... gợi ý về những cung điện và cảnh trí nguy nga, hoành tráng. Tất cả được hoàn thành trong vòng 3 tháng như các nhà chép sử đã ghi lại. Điều đó nếu đúng, khiến chúng ta không khỏi kinh ngạc!

Trước hết thành nhà Hồ là ngôi thành kiên cố với kỹ thuật xây dựng đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc thành lũy nước ta. Các nhà kiến trúc thành nhà Hồ đã tiếp thu những kinh nghiệm từ việc xây thành của các vương triều trước đó như thành Cổ Loa, thành Hoa Lư và gần nhất là kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần... Các nhà kiến trúc thành nhà Hồ đã tận dụng triệt để ưu thế của tự nhiên để thực hiện ý tưởng xây dựng thành.Vì vậy cấu trúc thành Tây Đô vừa có sự kế thừa vừa có sự đột phá.

Thành nhà Hồ được các nhà kiến trúc lợi dụng hệ thống núi đá vôi bao bọc. Đó là các núi Thổ Tượng, Hắc Khuyển, Ngưu Ngoạ vây quanh động An Tôn ở phía Bắc làm vòng thành thiên nhiên phía ngoài để bảo vệ cho hoàng thành vốn được xây dựng kiên cố. Sông Mã ở phía Tây, sông Bưởi ở phía Nam chảy tới tạo thành những hào nước khổng lồ, bảo vệ vững chắc từ mạn tiền duyên bao bọc lấy kinh thành.

Nét mới, sáng tạo của Hồ Quý Ly là ở chỗ: vật liệu xây dựng thành không giống như vật liệu xây dựng với các kiểu thành truyền thống trước đó, chất liệu chính xây dựng thành nhà Hồ là những phiến đá xanh được đẽo gọt vuông vức, khai thác từ những ngọn núi quanh vùng. Không loại trừ ở những vòm cuốn bốn cổng, đá được lấy từ núi Nhồi cách thành chừng 50 km. Tính độc đáo trong nguyên liệu đã quyết định phần lớn kỹ thuật xây dựng ngôi thành. Với kỹ thuật chồng khít những phiến đá khổng lồ thành một công trình kinh thành muôn thuở cùng kỹ thuật xây vòm cuốn không cần chất kết dính. Để xây dựng một toà thành kỳ vĩ như vậy, ông cha ta thuở đó đã sử dụng kỹ thuật hết sức thủ công như vận chuyển đá khối bằng thuyền bè, cộ, bi đá làm con lăn... mà cơ bắp là sức mạnh chủ yếu. 

Ngày nay, sau hơn 600 năm trường tồn cùng những biến cố, thăng trầm của đất nước và tác động của thời tiết, những cung điện lầu gác ngày xưa nay không còn nữa, toà thành vẫn hiện diện uy nghi với các tường thành và cửa thành còn khá nguyên vẹn, trong thành còn nổi lên hai loại thành bậc cung điện chạm sấu, chạm rồng, phía trên là đôi rồng đá - như nhiệm vụ của nó từ thuở ban sơ, cuốn chầu hai bên thềm bậc cửa của điện chính. Các kết quả nghiên cứu, khai quật khảo cổ học đã bước đầu làm xuất lộ nhiều thành phần kiến trúc của kinh đô cổ này. Cùng với tường thành có hào nước bao quanh, dấu tích của các cung điện, điện miếu của vương triều bên trong, phức hợp thành di sản thành nhà Hồ còn có La thành và đàn tế Nam Giao và những di tích, di vật thời Trần- Hồ cũng như việc phát hiện, khai quật cung Bảo Thanh - hành cung của vương triều Trần, nơi diễn ra trực tiếp quá trình thay triều đổi ngôi. Có thể nói ở Tây Đô Thanh Hoá còn lưu giữ một kho tàng di sản văn hoá (vật thể và phi vật thể) quí giá của dân tộc.

Đến thăm khu di tích thành nhà Hồ, đứng trước một công trình kiến trúc vĩ đại, tưởng nhớ anh linh cha ông ta một thuở dựng nước, vào tham quan nhà trưng bày nơi lưu giữ những hiện vật giá trị về một vương triều đã từng tồn tại trong lịch sử, xem điện cổ thành xưa, những sử liệu về chủ trương cải cách tiền tệ, kinh dịch thư ra chữ Nôm, chính sách hạn điền, hạn nô cùng với những hình ảnh, hiện vật qua các lần khai quật, sưu tầm khảo cổ như tường thành, cổng thành, các hiện vật bằng đất nung được sử dụng vào việc xây dựng các công trình kiến trúc như ngói âm dương, ngói bò, ngói đầu đao, gạch trang trí hình rồng... cho thấy phần nào sự hoành tráng kiến trúc ở đây.

Nhà Hồ không chỉ sử dụng vật liệu xây dựng của nhà Trần ở kinh đô Thăng Long mang vào, mà còn huy động nguồn tài lực tại địa phương. Bên cạnh đá, gạch là nguyên liệu quan trọng thứ hai hình thành nên kinh đô mới, tại khu vực cửa Nam  tìm thấy mảnh khuôn đất nung in hình rồng chứng minh việc sản xuất vật liệu tại chỗ ở thành nhà Hồ cùng với số lượng gạch có ghi những địa danh đảm nhiệm đóng góp gạch xây thành như “Tuyên Quang trấn”; “Giang Tây trấn”; “Vĩnh Ninh trường”,“An tôn thượng”, “kẻ nưa hạ”, “Yên Định huyện” và cả những viên gạch mang địa danh vùng Hải Hưng và Nghệ An. Nhóm gạch có chữ Hán - Nôm ở thành nhà Hồ có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu về nguồn gốc vật liệu xây thành.

Kế tiếp, chúng ta hãy chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của một nghề thủ công nổi tiếng ở Việt Nam - gốm sứ tráng men tuyệt mỹ với những cổ vật đặc sắc, đa dạng như thạp, bát, đĩa cùng các sưu tập lon sành, bình sành có niên đại từ thế kỷ 14 -15. Sưu tập đồ gia dụng gốm sứ cao cấp, đồ “ngự dùng” dành cho Vua và Hoàng hậu cùng sưu tập “đồ thờ cúng” lưu giữ và trưng bày tại đây luôn mang lại những thích thú say mê cho khách tham quan.

Đặc biệt quanh khu vực thành nhà Hồ chúng ta đã sưu tầm và trưng bày hàng trăm viên đá với nhiều kích cỡ khác nhau. Các di vật  bi đá, dấu tích con đường, cống đá là nguồn tư liệu giúp chúng ta nghiên cứu và tái hiện được những địa danh khai thác đá, quá trình vận chuyển đá mà theo truyền thuyết dân gian, nhà Hồ đã sử dụng những viên bi đá để vận chuyển các khối đá từ nơi khai thác về công trường xây thành.

Tại khu vực thành nhà Hồ tìm thấy được một số mũi giáo, mũi mác đặc biệt là loại chông 4 mũi, chúng ta rải thế nào thì vẫn có ba mũi bám xuống đất theo thế chân kiềng và một mũi chĩa thẳng lên trời, đây là một trong những loại vũ khí lợi hại bảo vệ kinh thành của thời Hồ.

Đến thăm khu di tích thành nhà Hồ, du khách không chỉ xem và tìm hiểu các công trình kiến trúc, các di tích, di vật phụ cận như đàn tế Nam Giao (xã Vĩnh Thành), đàn tế trời - đất, cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, vương triều trường tồn, thịnh trị; đền thờ nàng Bình Khương (xã Vĩnh Long) gắn liền với huyền thoại về vị đốc công Trần Cống Sinh chỉ huy xây tường thành phía đông và câu chuyện tình cảm động về tấm lòng thủy chung của nàng Bình Khương, hang Nàng (xã Vĩnh Tiến), mau An Tôn (xã Vĩnh Yên)... là những di tích có liên quan đến quá trình xây dựng và hoàn thiện kinh đô nhà Hồ, mà du khách còn có điều kiện để hiểu biết và khám phá một không gian văn hoá Tây Đô cùng thời đại đã sinh ra nó còn ẩn chứa nhiều truyền thuyết dân gian  liên quan đến kinh đô Tây Đô, tiêu biểu như: truyền thuyết Thánh Lưỡng; truyền thuyết xây dựng thành Tây Đô; truyền thuyết Hồ Công và chùa Du Anh. Các truyền thuyết, giai thoại tạo cho nơi đây một “vùng văn hoá thấm đẫm tính nhân văn”.

Thành nhà Hồ không chỉ là ngôi thành bằng đá kỳ vỹ mà dưới góc độ mỹ thuật còn là “ một trong những tác phẩm đẹp nhất của kiến trúc An Nam” như L.Bezacie đã viết trong nghệ thuật Việt Nam. Các chuyên gia của trường Đại học  Showa (Nhật Bản) cũng đánh giá thành nhà Hồ là “ di tích kinh thành được kiến tạo bằng đá hùng vỹ nhất”. Với khu vực thành nhà Hồ là một thành luỹ kiên cố nhất, độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ 14 - đầu thế kỷ 15. Hiện nay, thành nhà Hồ là một trong số ít các di tích kinh thành còn lại trên thế giới còn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất về cảnh quan cũng như qui mô kiến trúc.

Bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam sau chuyến thực địa tại Thanh Hóa hồi tháng 1/2011 đã phải kinh ngạc thốt lên: “Tôi rất ấn tượng với việc xây thành nhà Hồ bằng việc gắn những phiến đá rất lớn lại với nhau mà lại không cần đến một chất kết dính nào trong một khoảng thời gian rất ngắn, lại thực hiện hoàn toàn bằng sức người. Đây là một trong rất nhiều bí ẩn của thành nhà Hồ mà các nhà khoa học Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu”.

Với những giá trị văn hoá to lớn, di tích thành nhà Hồ được Bộ Văn hoá  xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1962. Sau khi có quyết định này, ngành Văn hóa, các cấp của Trung ương và của tỉnh Thanh Hóa đã rất quan tâm đến việc nghiên cứu bảo vệ và phát huy giá trị của khu di tích. Dự án xây dựng đường giao thông vùng phụ cận khu di tích thành nhà Hồ đã được thực hiện. Đường giao thông được xây dựng thuận tiện cho việc lưu thông của nhân dân nói chung và của khách du lịch đến khu di tích thành nhà Hồ nói riêng; Dự án khai quật di tích cửa Nam thành nhà Hồ năm 2008  cùng với chương trình hợp tác nghiên cứu và khai quật khảo cổ học giữa trường Đại học Showa Nhật Bản và trường Đại học Khoa học và Nhân văn Quốc gia Hà Nội năm 2004 đã góp thêm nhiều tư liệu phong phú cho việc xác định giá trị và mức độ bảo tồn của tòa thành và các dấu vết kiến trúc bên trong; Dự án khai quật di tích đàn Nam Giao lần 1, lần 2, lần 3 và 4 . Nhờ các đợt khai quật này, cấu trúc nền móng và các công trình xây dựng của đàn Nam Giao đã được phát hiện. Đây là nguồn tư liệu quý giá không chỉ cho việc hiểu biết lịch sử xây dựng đàn mà còn cung cấp các thông số giúp ích cho việc bảo tồn, bảo quản di tích trong tương lai; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Lộc đến 2010, định hướng đến 2020 của UBND huyện Vĩnh Lộc; Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích thành nhà Hồ của UBND tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá, Trung tâm bảo tồn di sản thành nhà Hồ đang hoàn thành dự án quy hoạch tổng thể và chi tiết khu di tích lịch sử văn hoá thành nhà Hồ. Dự án này được phê duyệt sẽ là cơ sở pháp lý cho việc quản lý, đầu tư cho các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di tích thành nhà Hồ.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nổi bật nêu trên, dưới sự chỉ đạo của các cấp, các ngành, sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong và ngoài nước cùng những động thái tích cực trong quá trình vận động các nước ủng hộ đề cử di sản văn hóa thành nhà Hồ tại Hội nghị lần thứ 35 của Ủy ban di sản văn hóa thế giới tổ chức tại Bahrain vào tháng 6 tới, hy vọng thành nhà Hồ sẽ được ghi danh là di sản văn hóa thế giới.

 

Theo TH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác