Văn hóa làng trong đời sống Việt Nam

Dù đô thị hóa đã diễn ra một thời gian dài, nhưng hầu hết người dân Việt Nam vẫn lớn lên và ra đi từ làng quê. Làng vừa là không gian sinh sống, vừa nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người từ những truyền thống văn hóa đặc sắc. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Ngọc Khánh đã có dịp đi nhiều, đọc nhiều và tổng hợp những điều thú vị trong cuốn sách “Văn hóa làng ở Việt Nam”.

Văn hóa làng trong đời sống Việt Nam - ảnh 1

“Làng ta phong cảnh hữu tình

Dân cư giang khúc như hình con long”.

 Đây là câu ca dao về một làng quê nào đó, nhưng ai cũng như thấy bóng dáng xóm làng mình. Có thể cũng đông đúc, có thể là thưa người, nhưng cái phong cảnh hữu tình thì chắc chắn có. Cái phong cảnh hữu tình ấy có thể được cảm nhận ngay khi mỗi người đang sống ở làng, cũng có thể, lúc xa rồi người ta mới nhận ra. Và nhớ đến làng, người ta ấn tượng sâu sắc về văn hóa làng.

Tác giả dành phần đầu nói về cơ cấu làng Việt Nam, từ sự hình thành và phát triển làng, đến hệ thống chính quyền, rồi kinh tế làng xã. Chưa có tài liệu lịch sử chính xác để khẳng định làng ra đời từ bao giờ. Chỉ thấy từ thế kỷ thứ 10, khi Khúc Hạo dấy nghiệp, mới có lộ, phủ, châu, xã ở các nơi. Và làng được hiểu theo nhiều tên gọi như hương, xã, thôn, lý, láng, làng…Từ khi xuất hiện làng, đã có nhiều chuyển biến, đổi thay trong sinh hoạt cộng đồng, trong quan hệ giữa các làng với nhau.

Làng mỗi ngày một ảnh hưởng lớn hơn đến cuộc sống của mỗi người dân. Người ta quan niệm: Sống ở làng, sang ở nước và thiết tha gắn bó với làng. Kẻ bỏ làng bị chê bai và cũng tự cảm thấy khổ tâm. Làng rất bình dị, mộc mạc, thậm chí heo hút, nhưng lại có một sức mạnh không ngờ. Tính biểu tượng của làng rất lớn, nói về tính cách, người ta ví von “Trai làng này, gái làng nọ”, nói về sinh kế, người ta gắn đặc sản với tên làng.

Tác giả chia làng quê văn hóa cổ truyền Việt Nam thành các nhóm:

 - Làng văn: là đất học hành, khoa cử.

 - Làng võ: nơi có nhiều võ tướng, thịnh hành những môn thể thao, những trò chơi thượng võ.

 - Làng nghề: với những nghề thủ công như nghề mộc, nghề rèn, nghề khảm, làng nông nghiệp, ngư nghiệp.

 - Làng chợ: là những làng chuyên nghề buôn bán.

 Văn hóa làng được trân trọng đến độ, nhiều làng được vua chúa đặt tên như làng Kiên Nghĩa hoặc làng Mỹ Nhân. Làng có gia đình được ban tấm biển “Khả phong” hay “Ân tứ”, cũng thành một làng văn hóa truyền thống vì có những gia đình nền nếp, gia phong, có những con người có phẩm hạnh.

Văn hóa làng được tiếp nối từ quá khứ tới tương lai. Khi đất nước đứng lên đánh đuổi đế quốc, đã có những làng thép ra đời. Đó là những làng kháng chiến, vừa xây dựng căn cứ, vừa chiến đấu kiên cường.

Người Kinh có làng, ở các dân tộc thiểu số có mường, bản. Tìm hiểu văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng và văn hóa nghệ thuật ở làng mới thấy vai trò to lớn của làng. Bao nhiêu người con hiếu, tôi trung đã từ làng quê mà ra, dầu đó là những làng quê mộc mạc, đời sống khó khăn, 99% dân số dưới thời phong kiến là mù chữ. Trong đời sống phần đông người dân Việt Nam hiện nay, văn hóa làng vẫn giữ vai trò quan trọng. Nhưng người ta sẽ phải chú tâm hơn, để những văn hóa đẹp của làng không bị mai một.

 

Theo VTV

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác