Ðiêu khắc đình làng: Kết quả sáng tạo của nghệ nhân dân gian

Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác, điêu khắc đình làng là kết quả sáng tạo của nghệ nhân dân gian nhằm phục vụ cho đời sống chung của làng xã. Vì vậy, điêu khắc đình làng luôn mang đậm tâm hồn, tình cảm của người dân Việt và mỹ thuật đình làng trở thành sản phẩm đặc sắc của truyền thống văn hóa...

Bốn nụ cười - Ðình Hưng Lộc (Hà Nam).Bốn nụ cười - Ðình Hưng Lộc (Hà Nam).

Làng Bắc Bộ là không gian văn hóa của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, trong đó có điêu khắc đình làng. Làng là một đơn vị quần cư của người Việt, được hình thành rất sớm. Trước các biến động của lịch sử - xã hội, dường như rất nhiều giá trị văn hóa đã nảy sinh hoặc quy tụ về với làng, làm cho văn hóa làng trở nên đa dạng, phong phú trong tính tự trị riêng của nó. Từ tinh thần từ bi bác ái của nhà Phật với chủ trương đức trị ở thời Lý - Trần, tới tính tổ chức của Nho giáo đối với việc xây dựng một nhà nước vua sáng tôi hiền... các tôn giáo ấy song hành trong đời sống làng xã, hòa thành hệ thống tam giáo Nho - Phật - Lão, và cùng với tín ngưỡng bản địa, trở thành cội nguồn tâm thức của văn hóa, nghệ thuật dân gian, trong đó có nghệ thuật điêu khắc đình làng.

Ngôi đình làng của người Việt, theo thư tịch cổ cho biết, đã có từ thế kỷ thứ 15 và có thể có từ trước đó nữa nhưng cơ sở hiện hữu vật chất của nó là từ thế kỷ 16. Với chức năng là ngôi nhà chung của làng, đình vừa là nhà văn hóa, vừa là trụ sở hành chính và cũng là nơi thờ "người cha chung" của làng là Thành hoàng làng. Với chức năng thế tục nhiều hơn tôn giáo, không gian trong đình là không gian "mở". Chính không gian văn hóa và không gian nghệ thuật đó tạo nên hình ảnh độc đáo riêng biệt cho điêu khắc đình làng.

Nói đến điêu khắc đình làng, chúng ta có thể hiểu là những chạm khắc trang trí cả bên trong và bên ngoài của ngôi đình nhưng trong bài viết này chỉ đề cập đến những trang trí bên trong bởi nó mang một giá trị nghệ thuật đặc sắc của mỹ thuật cổ Việt Nam. Là thành phần trang trí làm bớt đi cái thô mộc của gỗ, điêu khắc đình làng được thể hiện trên khung vì kèo của kiến trúc gỗ. Nhìn tổng thể nó giống như một bức tranh liên hoàn nhưng ngắt ra ở mỗi đoạn ta có thể xem nó như một tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh. Các tác phẩm nghệ thuật đó tái hiện đời sống sinh hoạt của người dân lao động. Cảnh mẹ gánh con, đốn củi, bắn hổ, đá cầu, xem hát, chơi cờ, uống rượu... là những sinh hoạt làng quê cho đến những cảnh như: tắm sen, nam nữ vui đùa, tình tứ là thông điệp gửi gắm tâm tư tình cảm, khát vọng của những người dân hồn hậu. Ðình làng là sản phẩm của Nho giáo nhưng điêu khắc đình làng vượt lên trên cả giáo lý khắt khe của Nho giáo đó. Nếu như "nam nữ thụ thụ bất thân" thì các chàng trai, cô gái trong Tắm sen ở đình Tây Ðằng (Hà Tây), Bốn nụ cười đình Hưng Lộc (Hà Nam) tự do vui đùa, trêu ghẹo nhau. Nếu như con "rồng" của nhà Nho là biểu trưng cho Thiên tử thì con rồng trong điêu khắc đình làng chỉ là biểu tượng của nhân duyên, là sự hội ngộ, sum vầy "bao giờ rồng mới gặp mây" giống như khát vọng tình yêu nam nữ qua hình ảnh Rồng - Tiên. Một trong nét đặc sắc của điêu khắc đình là mang đậm tính nhân văn. Như đã nói bối cảnh lịch sử của mỹ thuật đình làng là một xã hội đầy biến động, thế nhưng ta không thấy cảnh đâm chém, chết chóc trong chủ đề của loại hình nghệ thuật dân gian, bằng thủ pháp riêng của mình, điêu khắc đình làng toát lên vẻ hồn nhiên, dí dỏm, vui tươi của một đời sống no đủ an bình. Nó gợi ta nhớ đến những hình khắc trên mặt trống đồng Ðông Sơn, là những cảnh hội hè, tế lễ. Phải chăng đó chính là khát vọng và mỹ cảm của người dân lao động?

Nói đến thủ pháp của nghệ thuật chạm khắc đình làng là nói đến sự sáng tạo của người nghệ sĩ dân gian Việt Nam, không gian và thời gian trong đó không cứng nhắc cố định ở một góc độ thời gian, không gian. Tất cả hết sức linh hoạt, sinh động của không gian đồng hiện, của cách kết hợp nhiều điểm nhìn. Tắm sen không chỉ nhìn thấy những gì nổi trên mặt nước mà thấy cả người cả hoa sen, cả cá bơi trong nước hết sức vui vẻ, hồn hậu. Hay cảnh sinh hoạt xã hội trong điêu khắc đình làng Thổ Tang (Vĩnh Phúc), bên người uống rượu là người đi cày, người cưỡi ngựa, nó gợi lên cái nhịp điệu của đời sống đương thời. Rồi một bàn cờ của người nghệ sĩ dân gian trong Ðánh cờ được nhìn theo nhiều chiều hướng khác nhau: bàn cờ được nhìn từ trên xuống, người đánh cờ được nhìn vừa chính diện vừa trắc diện. Vậy mà tất cả không hề phi lý, nó tổ hợp lại trong một trật tự, một bố cục hoàn chỉnh của tâm thức phương Ðông.

Bằng phương pháp tạo hình độc đáo, giống như người nghệ sĩ Tây Nguyên, nhà điêu khắc của trang trí đình làng Bắc Bộ không bị bó buộc vào những cơ sở tạo hình như người phương Tây. Không quan tâm đến khoa học giải phẫu, bằng cách xây dựng hình thể "phi tỷ lệ", thậm chí còn được cường điệu hóa, có khi đầu rất to hoặc cánh tay rất dài... nhưng tất cả lại hài hòa trong tính biểu cảm của hình ảnh, đó là trạng thái, là cảm giác mà người nghệ sĩ dân gian muốn tác động đến người xem. Có thể coi điêu khắc đình làng mang đậm chất Ba-rốc là ở chỗ đó, ở chất hiện thực, biểu cảm và sinh động.

Ở phương Tây, từ nghệ thuật Phục hưng đến nghệ thuật hiện đại là cả một khoảng cách rất dài về thời gian, rất lớn về phương pháp tạo hình. Không gian, hình thể của nghệ thuật Phục hưng đều xây dựng trên những tiêu chí nghiêm ngặt, quá cách xa với cái phá cách của trào lưu hội họa hiện đại. Nhưng cách xây dựng hình thể cường điệu của hội họa Dã thú, cách nhìn sự vật ở nhiều điểm nhìn khác nhau như hội họa Lập thể lại là những thủ pháp nghệ thuật không xa lạ với tạo hình của điêu khắc đình làng như đã nói ở trên. Vì thế, có người nói từ nghệ thuật truyền thống của Việt Nam đến mỹ thuật hiện đại không có khoảng cách. Ðây có thể là một nguyên do lý giải tại sao mỹ thuật truyền thống Việt Nam có thể tiếp biến được trong nền mỹ thuật hiện đại, mà cái gạch nối sâu đậm đó là điêu khắc đình làng. Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, thêm một lần văn hóa Việt Nam thể hiện sự cởi mở của nó, đó là giao lưu với nền văn hóa phương Tây. Trong nghệ thuật tạo hình cũng vậy, khi họa sĩ Victor Tardieu mở ra Trường Cao đẳng Mỹ thuật Ðông Dương đồng thời là sự bắt đầu một nền mỹ thuật mới ở Việt Nam. Ðó là một giai đoạn học hỏi, kế thừa và phát huy truyền thống.

Năm 1931, công chúng yêu nghệ thuật ở Pa-ri từng ngỡ ngàng trước những bức tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh. Sự mới lạ của phương pháp tạo hình nửa Á nửa Âu, cái đẹp bình dị, đôn hậu, cái hồn tâm thức dân gian ấy đã chinh phục được cả tầng lớp công chúng khó tính. Năm 1957, người ta lại bất ngờ trước cái đẹp lộng lẫy, sang trọng nhưng hết sức hồn hậu của tranh sơn mài Việt Nam. Ngày nay trong xu hướng hội nhập, mỹ thuật Việt Nam lại một lần nữa khẳng định được diện mạo của nó trong khuynh hướng toàn cầu hóa. Hơi thở của mỹ thuật truyền thống vẫn còn in đậm trong các sáng tác rất mới ngày hôm nay. Những hình tượng nghệ thuật, những phương pháp tạo hình, những đề tài diễn tả... gần gũi biết bao với điêu khắc đình làng. Từ Ðiệu múa cổ của Nguyễn Tư Nghiêm, Múa vòng của Nguyễn Sáng đến Ðêm trung thu của Thành Chương, Ngày hội của Huỳnh Khuynh, Các thôn nữ của Lê Ngọc Hiếu...  đều là những tác phẩm thể hiện sự tiếp biến của mỹ thuật dân gian với hội họa Việt Nam hiện đại.

 

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác