Chơi tranh và sống bằng tranh

Mươi năm trở lại đây, mỗi lần về Bắc Ninh, ghé thăm làng Đông Hồ lại thấy chạnh buồn. Chẳng còn đâu hình ảnh “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” từng khiến nhà thơ Hoàng Cầm mê đắm nữa.

Bộ tranh thờ gia tiên  (dương bản)  (Ảnh: Hy Lam)Bộ tranh thờ gia tiên (dương bản) (Ảnh: Hy Lam)

Thế mà, ngay giữa thời buổi Đông Hồ - nhà nhà đua nhau làm vàng mã, vẫn có một người cặm cụi giữ cho “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Ông là nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, thế hệ thứ 20 làm tranh Đông Hồ trong nhà họ Nguyễn.
Qua 40 cây số đường bụi mù về làng Đông Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh, chưa chi, trong đầu đã mường tượng ra hình ảnh một căn nhà nhỏ cũ kỹ, bộ bàn ghế xiêu xiêu ánh nước thời gian, rồi một ông lão mang dáng vẻ trầm tĩnh của một ông đồ pha lẫn chút cổ quái của dân chơi đồ cổ (thì với cái tốc độ “vàng mã hóa” kinh hoàng như thế, tranh Đông Hồ cũng thành đồ cổ rồi còn gì!). 

Hỏi đường đến nhà cụ Chế. Ngẩn người ra trước tòa nhà hai tầng đồ sộ, chiếc xe hơi bóng loáng và khoảng sân rộng giăng kín những “mẻ” tranh Đông Hồ đang dần khô dưới cái nắng cuối đông đùng đục. Một ê-kíp 3 người thoăn thoắt tay “bồi”, tay phơi. Vừa múa cái chổi thông để bồi nước điệp lên giấy dó, anh Tâm - con trai út nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế vừa tranh thủ giới thiệu:  Tranh điệp có hơn 100 loại. Một bức tranh có bao nhiêu màu thì phải in bấy nhiêu lần. Khô màu này mới in tiếp màu khác.

Tranh bộ 16 loại. In hai lần. Lần một in mực than lá tre. Đợi khô vẽ thêm thủy mặc bằng mực tàu. Sở dĩ tranh Đông Hồ bền màu, càng treo lâu càng rực rỡ là vì dùng toàn chất liệu tự nhiên và giã tay bằng cối đá. Màu vàng làm từ hoa hòe, màu trắng - vỏ con điệp, màu đỏ - sỏi son, màu xanh - lá chàm, màu đen - than lá tre. Ăn nhau là ở chỗ biết phối hợp 5 màu cơ bản ấy thành ra các màu khác cho phong phú. Nhà anh Tâm thật chẳng khác nào một bảo tàng tranh. Phòng trong, phòng ngoài, bên phải bên trái đâu đâu cũng thấy tranh Đông Hồ và những bản khắc gỗ, có lẽ chỉ trừ mỗi cái... toa lét. Hỏi thăm cụ Chế, anh chỉ đến cuối ngõ.

Một tòa nhà khác cũng to đẹp không kém. Sân cũng giăng đầy tranh. Tranh gà, tranh lợn, tranh tứ bình, tú nữ... cũng treo kín khắp các phòng. Hoạt bát, nhanh nhẹn và đặc biệt hay chuyện, “cụ” Chế trông hãy còn phong độ lắm, dù đã qua ngưỡng thất thập cổ lai hy. Thật khó tin, ông già mê tranh này đã có 30 năm làm giảng viên trường mỹ thuật. Năm 1990, ngày về hưu, được sum họp với vợ con cũng là ngày thẫn thờ chứng kiến cả làng tranh Đông Hồ xơ xác, hồn tranh Đông Hồ phiêu dạt. Tranh ế không bán được. Dân làng đành cắn răng dứt bỏ nghề cổ, đổ xô qua làm vàng mã. 
Đau lắm. Nhưng cũng vì kế sinh nhai... Riêng ông Chế thì không đành lòng. Cứ bùi ngùi nhớ mãi cái thuở lên chín, lên mười, biết bao lần háo hức theo mẹ đi chợ tranh. Chợ tranh Đông Hồ họp từ mùng sáu tháng Chạp âm lịch, cách 5 hôm họp lại một lần, tới 5 phiên mới hết. Từ tối mùng 5, nhà nhà đã rạo rực đón khách đến xem tranh, khách đi từng tốp mười mấy người như trẩy hội. Thuở ấy, người ta không mua tranh bằng tiền mà dùng hàng hóa trao đổi. Những con đò chở đầy tranh rời “bến” Đông Hồ tấp nập ngược xuôi dòng sông Đuống cứ trở đi trở lại trong nỗi nhớ của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế. Thế là, ai bỏ mặc ai, ông vẫn nhất quyết theo nghề Tổ. 3 năm ròng cặm cụi sưu tầm những bản khắc cổ rồi mày mò nghiên cứu để có thể tự khắc, tự vẽ, tự in tranh. Đại sứ quán Pháp biết chuyện bèn tặng ông một cuốn sách in rất nhiều mẫu tranh Đông Hồ.

Những năm đầu không đủ kinh phí, phải vừa làm tranh vừa làm vàng mã. Tới năm thứ 4 thì chỉ chuyên làm tranh. Đến giờ, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã có trong tay hơn 100 bản khắc cổ tuổi thọ trên dưới 200 năm, hàng nghìn bản khắc mới và 200 mẫu tranh. Độc đáo nhất là bộ tranh thờ gia tiên với 26 bản khắc. Trong khi nghiền ngẫm các bản khắc âm bản (dùng để in), máu họa sĩ trỗi dậy, ông tạo ra bản khắc dương bản (để chơi) và dòng tranh khắc gỗ độc đáo này đang là thú chơi của không ít người.

Chừng năm năm trước, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế bắt tay vào làm lịch tranh. Những cuốn lịch xinh xắn đính trên mành trúc, mở ra là những bức tranh Đông Hồ nức tiếng mấy trăm năm nay -  Đám cưới chuột, Em bé cưỡi trâu, tranh gà đàn, lợn đàn ngày càng “đắt hàng”. Riêng lịch năm con lợn (2007) với hình ảnh đàn lợn mũm mĩm ngoài bìa thì bán chạy tới mức, ông chỉ còn một cuốn duy nhất làm mẫu. “Giờ có thể sống đàng hoàng bằng tranh rồi”.

Ông Chế khoe, ngoài hai cơ sở tại làng Đông Hồ, ông còn có một cửa hàng tranh khang trang ở Hà Nội và tương lai sẽ thành lập công ty để đưa tranh Đông Hồ ra thế giới. Nhưng quan trọng nhất vẫn là thỏa được cái thú của mình. “Tôi còn muốn khôi phục tất cả những mẫu tranh đã sưu tập được và mở lớp truyền nghề cho các em, các cháu trong làng”. Chưa dứt câu chuyện thì một cái taxi đỗ xịch trước cổng nhà.

Một đoàn khách Nhật bước xuống, í ới hỏi “cụ” Chế. “Mấy năm nay khách Tây về đây xem tranh, mua tranh rồi hỏi chuyện làng tranh nhiều lắm”. Ông nhanh chân ra đón khách, bỏ luôn bát cơm chưa kịp và miếng nào. Đấy là chuyện thường nhật của ông già mê tranh Đông Hồ này.
Theo TT

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác