Giải pháp nào cho thị trường mỹ thuật Việt Nam?

Giải pháp nào cho thị trường mỹ thuật Việt Nam? - ảnh 1
"Khúc giao mùa" - Phạm Hà Hải, sơn dầu.
(Cinet)- Sau một giai đoạn thăng hoa tưởng chừng như không có điểm kết, thị trường mỹ thuật Việt Nam hiện nay đang bước vào một giai đoạn suy trầm đáng lo ngại…
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và văn hoá hiện nay, việc nghiên cứu quản lý phát triển thị trường mỹ thuật ở Việt Nam có thể xem là một vấn đề bức thiết để phát triển mỹ thuật trên cả hai phương diện kinh tế và văn hoá. Hội thảo “Giải pháp phát triển thị trường mỹ thuật Việt Nam trong bối cảnh kinh tế xã hội đương đại” là hoạt động nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học về thị trường mỹ thuật trong nước do Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm chủ trì, phối hợp với các chuyên gia, nhà nghiên cứu của ngành mỹ thuật thực hiện, nhằm tập hợp những ý kiến đóng góp của các đại biểu, lấy đó là cơ sở xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp cho việc phát triển thị trường mỹ thuật Việt Nam trong thời gian tới.
Thị trường mỹ thuật Việt Nam phát triển manh mún  
Nếu nói ở Việt Nam chưa có thị trường mỹ thuật thì không hẳn đúng. Nhưng dù cho các hoạt động buôn bán, trao đổi các tác phẩm mỹ thuật ở Việt Nam đã diễn ra từ nhiều năm nay thông qua vai trò của các nhà sưu tập, các gallery, thì trên thực chất ở Việt Nam vẫn chưa có một thị trường mỹ thuật theo đúng nghĩa. Sự hoạt động của các gallery trong nước có thể xem là những hoạt động có tính chất đơn lẻ, theo lề lối kinh doanh cá thể. Hầu như trong các hoạt động thương mại về mỹ thuật chưa thấy có vai trò của nhà nước hay các tổ chức xã hội. Điều này thể hiện ở chỗ, trong các văn bản pháp luật còn thiếu những chính sách khuyến khích sự phát triển của mỹ thuật nói chung cũng như sự phát triển của thị trường. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự phát triển manh mún của thị trường mỹ thuật ở Việt Nam.
Sau gần 30 năm mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường, thị trường mỹ thuật Việt Nam đã có những biến đổi hết sức to lớn. Từ một thị trường mỹ thuật “phi thị trường” trước 1986 (hầu như chỉ phục vụ cho công tác tuyên truyền) đã biến thành một thị trường mỹ thuật vô cùng sôi động trong hai thập niên sau “đổi mới”, tiếp sau đó là một giai đoạn bế tắc kéo dài cho đến nay. Như vậy, sau một giai đoạn thăng hoa tưởng chừng như không có điểm kết, thị trường mỹ thuật Việt Nam hiện nay đang bước vào một giai đoạn suy trầm đáng lo ngại.
Sự “đóng băng” quá sớm của thị trường mỹ thuật Việt Nam bộc lộ khung cảnh trái ngược với thị trường khu vực và quốc tế đang phát triển sôi động. Nếu trên thế giới, tranh, tượng có giá trị được coi là tài sản lớn ngang với bất động sản, xe ô tô, vàng, tiền, đá quý…, thì ở Việt Nam lại trái ngược hoàn toàn.
Thực tế hiện nay, việc mua bán các tác phẩm mỹ thuật có giá trị nghệ thuật cao hầu hết là khách nước ngoài; thị trường nội địa hầu như không có, có chăng chủ yếu là người Việt Nam mua các tranh trang trí tư gia, ít giá trị nghệ thuật. Điều này dẫn tới việc “chảy máu” nghệ thuật ra nước ngoài. Bên cạnh đó, việc định giá giá trị của các tác phẩm nghệ thuật hầu như chưa có sự tham gia của các tổ chức có uy tín như Bảo tàng Mỹ thuật hay các chuyên gia hàng đầu.
Giải pháp nào cho thị trường mỹ thuật Việt Nam? - ảnh 2
“Nhìn từ đỉnh đồi” của Lê Phổ - một trong những tác phẩm đắt giá nhất của Việt Nam.
Nước ta không tồn tại bất kì một địa điểm (có thể gọi là một cái “chợ” nghệ thuật) nào nơi các đồ cổ, đồ cũ, đồ mỹ nghệ và các tác phẩm nghệ thuật được trao đổi một cách chính thức, có tổ chức. Không có các chuyên gia thẩm định giá trị tác phẩm, sản phẩm được đào tạo và được nhà nước cấp bằng hành nghề, thiếu vắng hệ thống thống kê, trao đổi, cập nhật thông tin về tác giả, tác phẩm, giá tiền; không tồn tại hiệp hội các nhà môi giới nghệ thuật; các trao đổi thường là trực tiếp hoặc bằng tiền mặt mà không giao dịch qua ngân hàng, không có sự chứng kiến của cán bộ công chứng; bản thân nghệ sỹ cũng không có thói quen làm giấy chứng nhận tính nguyên bản và số lượng của tác phẩm. Người mua, có muốn mua cũng không có cơ sở nào để định lượng, để có được sự xác thực. Các ngân hàng cũng không mặn mà hỗ trợ người mua giống như hỗ trợ vay mua bất động sản, ô tô, xe máy. Thậm chí, khi định giá tài sản doanh nghiệp, không ngân hàng, luật sư, cán bộ công chứng nào “dám” ghi giá trị của một tác phẩm nghệ thuật mà cá nhân hoặc tổ chức nào đó sở hữu là trị giá bao nhiêu tiền. Tất cả chỉ đơn giản vì không có bất kì hệ thống định giá chính thức nào nên cả người mua, người bán, người trung gian không có gì làm định hướng. Nếu có mua tác phẩm, cũng không có ai đảm bảo rằng tác phẩm ấy có thể bán được trên thị trường quốc tế - tức là có một giá trị nào đó, bằng hoặc cao hơn mức giá ban đầu. Điều dễ hiểu là trong điều kiện như thế, sẽ rất khó có người bỏ tiền ra mua các tác phẩm nghệ thuật.
Nói về hoạt động của các Gallery - một trong những nhân tố chủ đạo của thị trường mỹ thuật ở Việt Nam hiện nay, ông Vi Kiến Thành - Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm cho rằng, các Gallery Việt Nam hiện nay hoạt động không theo một quy luật nào cả và rất khó giải thích. Bản thân các Gallery hoạt động cũng không minh bạch, rõ ràng và phía sau còn có rất nhiều vấn đề bất cập.
Giải pháp nào cho thị trường mỹ thuật Việt Nam?
Thay đổi lớn nhất cần phải có để hình thành thị trường mỹ thuật Việt Nam là phải coi đó là một thị trường, vận động theo các quy luật của thị trường. Rộng hơn nữa, cần nhìn toàn bộ ngành nghệ thuật từ mỹ thuật, âm nhạc tới văn học, điện ảnh dưới góc độ một ngành công nghiệp văn hóa. Đó là cách các quốc gia phát triển ở Phương Tây, sau này là Hàn Quốc, Trung Quốc và gần đây là Philippines đã làm và thành công.
TS Từ Mạnh Lương, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường (Bộ VHTTDL) cho rằng: “Muốn xây dựng thị trường mỹ thuật nội địa, giai đoạn đầu nhất thiết phải có sự điều tiết của Nhà nước thông qua các cơ chế chính sách”. Nếu cơ quan quản lý không tham gia vào thị trường, thì ngay cả tiền thuế cũng bị thất thoát. Và đương nhiên sự thẩm định hay đăng ký bản quyền là hiếm hoi dẫn đến tình trạng bùng nổ tranh chép, tranh nhái như hiện nay. Bởi vậy, sự “ra tay” của các cơ quan quản lý với những yếu tố cơ bản của thị trường trong lĩnh vực mỹ thuật nên bắt đầu từ việc xây dựng Luật Mỹ thuật, trong đó quy định đầy đủ về bản quyền, thành lập hội đồng thẩm định, cơ quan thẩm định, cơ quan đấu giá, phiên đấu giá… Đi kèm với đó là chính sách đầu tư cho mỹ thuật của Nhà nước”.
Theo PGS.TS Nguyễn Đỗ Bảo: “Nhà nước không nên bảo trợ nghệ thuật bằng ngân sách mà nên kích thích thị trường bằng việc ưu đãi về thuế và các thủ tục khác đối với hoạt động đầu tư, bảo trợ nghệ thuật của các doanh nghiệp lớn”. Đặc biệt, Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ phổ biến nghệ thuật trong đời sống, như đầu tư cho truyền thông, tổ chức nhiều hoạt động trưng bày… Một điều mà ai cũng rõ, với thị trường mỹ thuật nội địa, khách hàng đóng vai trò quan trọng nhất chính là người trong nước. Gần đây có không ít hội chợ nghệ thuật tổ chức hướng đến khách hàng trong nước, như: “Hội chợ nghệ thuật Hà Nội”, “Tết art” đã thu hút khách mua lên tới hàng trăm người. Nhưng những hoạt động nêu trên vẫn do các tổ chức tư nhân đứng ra thực hiện. Thiết nghĩ, nếu cơ quan nhà nước đứng ra, với uy tín nhất định, chắc chắn thị trường mỹ thuật sẽ khả quan hơn nữa.
Hơn nữa, để người nghệ sỹ có thể sống được bằng công việc chân chính thì họ cần có một môi trường nghệ thuật lành mạnh, đó là một thị trường nghệ thuật thực thụ theo chuẩn mực quốc tế. Đó là nơi người nghệ sỹ có thể phát huy tối đa tài năng của họ mà không sợ bị những thứ phi chuẩn mực như hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng,… cạnh tranh. Họ cần đến một cơ chế minh bạch để tự do sáng tác, tự do bày tỏ những ý tưởng nghệ thuật mới nhất của mình mà không bị đóng khung trong một chủ thuyết mơ hồ hoặc một hệ ý thức chủ quan nào đó.
Ông Nguyễn Đình Thành - Th.S Quản trị văn hoá cho biết: Chưa đầy 1 thập kỷ tích cực đầu tư phát triển thị trường nghệ thuật đương đại, giờ đây Philipline đã có mặt trong top 20 thị trường nghệ thuật đương đại thế giới. Giá trị của tổng số tác phẩm bán được năm 2014 của các hoạ sỹ Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Indonesia và Thái Lan chiếm tới 54% doanh thu thị trường này trên toàn thế giới. Trung Quốc đã trở thành một thị trường nghệ thuật lớn nhất nhì thế giới, Đài Loan  đứng thứ 6 thế giới; Singapore đứng thứ 7; Hàn Quốc đứng thứ 9; các thị trường mới nổi đáng chú ý là Philippines, Malaysia và Indonesia. Điều này chứng tỏ, trọng tâm của thị trường mỹ thuật thế giới bắt đầu dịch chuyển về châu Á Thái Bình Dương và đây là một cơ hội cho mỹ thuật Việt Nam.
Chỉ khi các cải cách cả về cách nhìn nhận và khung pháp lý, đào tạo được tiến hành một cách có chiến lược và quyết liệt thì mỹ thuật đương đại Việt Nam nói riêng và mỹ thuật Việt Nam nói chung mới không bỏ lỡ “chuyến tầu hội nhập” quốc tế lần thứ hai - ông Thành khẳng định.
T.H
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác