Mỹ thuật Quảng Ninh - Hôm qua và hôm nay

Yếu tố đầu tiên đưa Mỹ thuật đương đại Quảng Ninh trở nên có tiếng trong cả nước có lẽ là nhờ một vùng than - một vùng công nghiệp mỏ. Còn cái giữ cho mỹ thuật Quảng Ninh phát triển, là nỗ lực không ngừng nghỉ của bao lớp tác giả mỹ thuật tỉnh nhà, để vừa giữ bản sắc vừa hoà cùng nhịp độ phát triển chung về mỹ thuật của cả nước...

Các tác giả đang chọn tác phẩm tham gia Triển lãm Mỹ thuật các tỉnh đồng bằng sông Hồng năm 2007Các tác giả đang chọn tác phẩm tham gia Triển lãm Mỹ thuật các tỉnh đồng bằng sông Hồng năm 2007

Ngay từ đầu, mỹ thuật đương đại Quảng Ninh đã có một thuận lợi lớn, đó là hội tụ được các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp và nổi tiếng của cả nước về sáng tác và truyền thụ kiến thức. Cuối những năm 50 của thế kỷ trước, các hoạ sĩ Hoàng Công Luận, Lưu Yên, Nguyễn Yên, Nguyễn Anh Thường, Bùi Quang Ngọc, Vũ Duy Nghĩa... đã xuống Quảng Ninh, trong trào lưu đưa văn nghệ sĩ về Vùng mỏ thực tế sáng tác. Họ mở lớp dạy mỹ thuật cho công nhân và cùng với nhiều sinh hoạt mỹ thuật khác đã thổi lên một không khí nghệ thuật sôi nổi ở Khu mỏ và trong những người công nhân vốn chỉ quen lao động trên các công trường, phân xưởng. Những lớp dạy mỹ thuật mở thường xuyên hàng năm thu hút những công nhân mỏ có năng khiếu và lòng say mê nghệ thuật theo học đã hình thành dần một lớp tác giả mỹ thuật giàu triển vọng. Bên cạnh việc cầm choòng, cầm búa, cầm cuốc, anh em quen dần với cây cọ vẽ, làm quen với những kiến thức ban đầu về mỹ thuật, kỹ thuật, hình hoạ... Đề tài vẽ được các tác giả lấy từ chính môi trường công nghiệp mỏ quen thuộc quanh mình, đặc biệt là vẽ về ngành Than. Cũng phải nói rằng, đây cũng là đề tài trọng điểm được cả nước chú ý lúc bấy giờ. Nhiều tác giả dành cả cuộc đời mình và có nhiều tác phẩm thành công ở đề tài này như hoạ sĩ Nguyễn Hoàng, Bùi Đình Lan, Ngô Phương Cúc v.v...

Từ các lớp học vẽ phong trào ấy, anh em công nhân trưởng thành dần, rồi cùng với lớp học sinh khác có năng khiếu, họ lại toả đi học ở các trường chuyên nghiệp, như Lê Vân Hải, Lê Chuyền, Trần Công Phú, Đinh Đức Thọ, Tống Giang Minh, Lý Ngọc Thanh... Lớp nghệ sĩ đàn anh ấy, nhiều người sau này đã trở thành những hoạ sĩ có tiếng của Quảng Ninh và cả nước, như Hoàng Ngọc Châu, Lê Vân Hải, Nguyễn Hoàng, Bùi Đình Lan, Ngô Phương Cúc, Lê Chuyền, Ngô Văn Túc, Trịnh Sỹ Vỹ, Tống Giang Minh...Và cũng thật bất ngờ, chính lớp hoạ sĩ trưởng thành từ công nhân này đã làm nên một giai đoạn thành công rực rỡ nhất của mỹ thuật tỉnh nhà những năm 80 của thế kỷ trước, với hàng loạt giải thưởng danh giá. Đó là Nguyễn Hoàng với bức Lán trại biên giới đoạt giải B, Lê Vân Hải với Bắt cua biển và Bùi Đình Lan với bức Đình công năm 30 đoạt giải C, Ngô Phương Cúc với Công trường than đoạt giải khuyến khích tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980... Những năm đó, mỹ thuật Quảng Ninh được đánh giá xếp ngang hàng với hai trung tâm mỹ thuật lớn cả nước là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; trực tiếp được cố giáo sư, hoạ sĩ, viện sĩ Trần Văn Cẩn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam tặng riêng một giải đặc biệt. Nhiều tác phẩm của các tác giả được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mua trưng bày, có mặt trong nhiều bộ sưu tập tranh trong và ngoài nước...

Không được thụ hưởng sự truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm của nhiều hoạ sĩ trung ương như lớp hoạ sĩ đầu tiên, nhưng sau này, Quảng Ninh cũng ghi nhận sự xuất hiện chững chạc của một lớp tác giả mỹ thuật trưởng thành từ thực tế trong các mỏ. Tiêu biểu như Vũ Tư Khang, Vũ Quý, Hoàng Minh Giám, Lê Na, Hoàng Văn Tại, Nguyễn Hiệp, Nghiêm Vinh, Xuân Hương, Tùng Lâm, Đặng Đình Nguyễn, Vũ Phong Thu. Đồng thời, mỹ thuật tỉnh nhà cũng được bổ sung một đội ngũ tác giả được học hành bài bản, ra trường về Vùng mỏ công tác. Đó là Lý Xuân Trường, Mai Ngọc Trọng, Trần Tuấn Lân, Nguyễn Duy Mạnh, Kiều Sỹ Khuê, Đinh Thanh...

Được học hành chuyên nghiệp, đó là nét khác biệt lớn nhất của các cây cọ trẻ hiện nay với lớp cha anh đi trước. Họ vẫn góp mặt từ 3 vùng mỹ thuật truyền thống là Hạ Long, Cẩm Phả và Yên Hưng của Quảng Ninh với Nguyễn Tâm Nhâm, Nguyễn Viết Quang, Lê Quốc Huy, Nguyễn Sỹ Chuyên, Nguyễn Hùng Cường, Nguyễn Đình Tài, Đào Thế Am, Vũ Kim Tuyến, Vũ Văn Phong, Lê Minh Đức, Trần Văn Chung. Trong đó, một số tác giả được thừa hưởng gien nghệ thuật từ cha mình như Lê Quốc Huy, Lê Hoàng Nguyên, Vũ Văn Phong, Trần Tuấn Long, Lê Thanh Đức... Nữ tác giả vốn hiếm hoi trong lịch sử mỹ thuật Quảng Ninh nay cũng đã xuất hiện, như Vũ Phương Trâm, Nguyễn Thị Thiền, Vũ Thị Đậm... Dồi dào sức sáng tạo, khả năng gây bất ngờ cao, các tác giả trẻ này là đội ngũ kế cận giàu có về tiềm năng của mỹ thuật Quảng Ninh trong khi nhiều bộ môn khác đang vô cùng thiếu vắng. Cùng với điều kiện ăn học, giao lưu, tiếp xúc với nhiều môi trường khác nhau, đề tài trong tranh của các tác giả trẻ (và một số tác giả đi trước) cũng dần rộng mở ra, như sinh hoạt biển, các dân tộc trên địa bàn, phong cảnh, đô thị, lấn biển, xây dựng... Các vấn đề xã hội rộng lớn cũng được đề cập, thậm chí là các đề tài mang tính toàn nhân loại như chất độc da cam, hiểm hoạ môi trường sinh thái, chiến tranh...

Mỹ thuật Quảng Ninh cũng chứng kiến sự vượt trội của hội hoạ ở giai đoạn đầu, nhưng về sau, xuất hiện nhiều tác giả điêu khắc có tiếng như Lý Xuân Trường, Nguyễn Tâm Nhâm, Đinh Thanh, Nguyễn Viết Quang, Nguyễn Duy Thanh, Kiều Sỹ Khuê, Nguyễn Đình Tài, Lê Trọng Mỹ... Các tác giả điêu khắc này có thế mạnh ở các loại tượng bán thân, tượng nội thất nhỏ. Tiêu biểu như Lý Xuân Trường với tượng gốm samốt Bảo vệ môi trường đoạt giải thưởng tại Triển lãm khu vực đồng bằng sông Hồng năm 2000; Tâm Nhâm nổi tiếng với tài điêu khắc trên chất liệu than đá, đặc biệt, bộ tượng điêu khắc trừu tượng chân dung danh hoạ Picasso với hơn 50 tượng được giới mỹ thuật đánh giá cao, được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công nhận đạt danh hiệu Người tạc chân dung Picasso bằng than đá nhiều nhất Việt Nam năm 2005. Tác giả điêu khắc Đinh Thanh gần đây được giới mỹ thuật đánh giá cao về giá trị tư tưởng thẩm mỹ và nghệ thuật với các tác phẩm Đợi, Trường tồn và Nghĩa mẹ; Nguyễn Viết Quang gây bất ngờ với 2 tượng Trở về và Chợ phiên được treo tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 2005...

Hoạ sĩ Vũ Quý, Chi hội trưởng Chi hội Mỹ thuật Quảng Ninh cho rằng: Điểm mạnh nhất của mỹ thuật Quảng Ninh là các tác giả được cọ xát nhiều với thực tế sản xuất, bởi vậy, tranh có nét tươi nguyên cảm xúc, tràn đầy sức sống từ những nét vẽ hiện thực. Nhưng đi hơi quá thì lại trở thành nhược điểm cố hữu, đó là lệ thực, dẫn đến sự hạn chế về chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Tác giả nào biết vượt lên hiện thực, dùng ngôn ngữ hội hoạ nhuần nhuyễn thể hiện cảm xúc trong tác phẩm thì chất lượng lại rất khá, tranh thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ, khái quát tốt cuộc sống... Nhìn nhận rõ điểm mạnh, yếu của mình, trong xu thế phát triển ngày càng mạnh, với những đòi hỏi cao hơn nhiều, mỹ thuật Quảng Ninh hôm nay cũng đang tìm cách vươn lên. Tác giả đã có thành tựu vẫn không ngừng phấn đấu, như Ngô Phương Cúc đau đáu, cặm cụi vẽ trong sự suy yếu sức khoẻ nhưng Vùng Mỏ bước vào đánh Mỹ của ông lại có màu sắc tươi sáng, trong trẻo hơn bao giờ hết... Tác giả trẻ có sức tiến thủ cao, chịu khó học hỏi, thành tựu cũng không chịu kém các bậc lão làng đi trước. Trong hai kỳ Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc gần đây nhất, Quảng Ninh có 32 tác giả với 33 tác phẩm được treo là thành công thật đáng khích lệ. Gần đây nhất, tại Triển lãm Mỹ thuật khu vực 2 các tỉnh đồng bằng sông Hồng tại Hưng Yên, các tác giả mỹ thuật toàn tỉnh lại được chọn treo 37/44 tác phẩm đem đi tham gia, trong đó giành được một tặng thưởng, một bằng khen. Hy vọng, mỹ thuật Quảng Ninh sẽ còn đi xa hơn nữa trong những thành công mới...

(Theo BQN)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác