Mỹ thuật Việt nam, 20 năm nhìn lại...

Mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới là tiêu đề của một hội thảo mà Viện Mỹ thuật, Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 10-5 vừa rồi.

Trần Văn Cẩn - Mùa đông sắp đến - 1957 – 1960.Trần Văn Cẩn - Mùa đông sắp đến - 1957 – 1960.

Gần 30 bản tham luận và rất nhiều ý kiến của các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, lý luận phê bình mỹ thuật... trong cả nước đã khiến hội thảo mang một không khí học thuật khá sôi nổi.Tuy nhiên, ngoài âm hưởng khẳng định, các  tham luận cũng  đã đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm về tình hình sáng tác mỹ thuật hiện nay.

Hai mươi năm đã qua, quãng thời gian ấy đủ cho một thế hệ già đi hoặc trưởng thành, những gì mới có còn được gọi là mới nữa hay không? Mỹ thuật đương đại Việt Nam đã qua một giai đoạn bùng nổ, tạm gọi thế, của những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Sáng tác, tổ chức trưng bày, bán tác phẩm trong vai trò cá nhân, tự mình hướng tới các hoạt động quảng bá, giao lưu, hội nhập... một loạt hành động mới để thức tỉnh vai trò cá nhân của người nghệ sĩ. Diện mạo mỹ thuật cơ bản thay đổi. Nhưng ngoài việc công nhận sự thay đổi ấy, cũng phải thấy rằng một phần của đổi mới mới chỉ là sản phẩm tự phát của một bối cảnh xã hội mới, chưa hoàn toàn là sản phẩm của một cách tư duy mới. Tự do sáng tác tự nó là một khái niệm đầy thách thức, và không phải ai cũng vượt qua được thách thức ấy. Ngừng trệ, hoang mang cũng đã có trong thời kỳ vừa qua.

Tiến trình của mỹ thuật đổi mới, như một trào lưu và một mô hình thẩm mỹ - tư tưởng, mỹ thuật đổi mới làm thay đổi bộ mặt, tầm vóc và đặc tính của mỹ thuật Việt Nam, được họa sĩ,  nhà phê bình Nguyễn Quân khái quát như sau: Ðó là một dòng chảy đan cài, len lỏi ồ ạt, bùng phát hay lắng xuống, không chỉ từ sau 1987, mà từ Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1976 và nhất là Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1980, với sự hội tụ nghệ sĩ cả hai miền, đã thấy những mầm mống mạnh mẽ và những gương mặt đặc sắc của mỹ thuật đổi mới.

Ði đầu trong trào lưu đổi mới VHNT của đất nước, hội họa Việt Nam nhanh chóng trở thành một phát hiện của mỹ thuật khu vực Ðông-Nam Á, tạo được một uy tín quốc tế. Nó cho thấy một gương mặt, một vóc dáng mỹ thuật đặc sắc khác hẳn nghệ thuật các nước trong khu vực.

Trong nửa sau của thập kỷ 90, khi hội họa Doimoi (một từ thường được dùng trong các bài báo của các tác giả ngoài nước viết về thời kỳ này) lắng xuống, phần nào bị thương mại hóa thì đến lượt điêu khắc bắt đầu có những thay đổi căn bản về thẩm mỹ, đồng thời các môn nghệ thuật đương đại bùng phát nhanh chóng và dần dần khẳng định mình trong đời sống mỹ thuật nước nhà... Song song với mỹ thuật đổi mới vẫn tồn tại hai bộ phận mỹ thuật bao cấp và mỹ thuật phong trào..., điều đó khiến các nhà quản lý cần hướng tới một mô hình có hiệu quả của thời kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Về mặt khái niệm, Phạm Trung, nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật thuộc Viện Mỹ thuật cho rằng, cần chia tay với thuật ngữ "mỹ thuật Doimoi" của một số tác giả nước ngoài khi viết về mỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Thời kỳ đổi mới từ sau 1986 được anh và một số nhà nghiên cứu thống nhất đánh giá với một số đặc điểm: Phát triển mạnh từ những tiền đề đã có giai đoạn 1975-1985, mỹ thuật đặc biệt là hội họa, có thể xem như một ngành tiên phong, phát triển đa phong cách, thay đổi tính chất một cách sâu sắc và toàn diện. Không chỉ dừng ở đổi mới  đề tài hay chủ đề mà thay đổi cả một mô hình thẩm mỹ mới với hệ thống quan niệm, cấu trúc và đối tượng mới. Ðồng thời cả một lực lượng mới, năng động - một thế hệ trẻ không mặc cảm - đã xuất hiện và đảm đương vai trò sáng tạo của mình suốt hai thập kỷ qua.

Không chỉ một thế hệ trẻ không mặc cảm, mà cả một thế hệ già không thành kiến cũng đang cất lên tiếng nói mạnh mẽ của mình. Những tên tuổi sáng giá của lứa họa sĩ cao niên giờ vẫn tiếp tục đi trên con đường sáng tạo không mang tiếng cũ.

Tất nhiên quan niệm không hoàn toàn thống nhất. Họa sĩ lão thành Phan Bảo lại cho rằng, đổi mới chỉ là một cách nói, từ trước đến nay, các họa sĩ Việt Nam vẫn học những cái mới theo kiểu Việt Nam, nghĩa là học lấy những gì mình có thể làm được theo mục tiêu của mình. Ðó là những cái mới về kỹ thuật thuần túy chứ không phải những đột phá về tư tưởng này nọ như người ta vẫn nói. Các họa sĩ chỉ đơn giản học tập những giải pháp nghệ thuật có thể học được trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình. Bởi vậy thời nay, từ chối thương mại, dũng cảm thể hiện cảm nhận của mình đối với hiện thực, đối với văn hóa truyền thống, văn hóa thời đại của nhân dân mình bằng bất kỳ một giải pháp nghệ thuật nào chính là đổi mới.

Chỗ yếu kém đáng than vãn và đòi hỏi khước từ của mỹ thuật Việt Nam đương đại là sự thiếu vắng hoặc mờ nhạt vai trò trí thức của nó, điều này khiến mỹ thuật Việt Nam tuy đổi mới nhiều song vẫn thiếu bản lĩnh của một nền nghệ thuật thật sự lớn.

Những họa sĩ trẻ, những người tâm huyết với nghệ thuật đương đại, như họa sĩ Trần Lương, ngoài việc miệt mài sáng tác vì một quan niệm thẩm mỹ mới, không phải không có lý khi cho rằng môi trường phát triển của mỹ thuật hai mươi năm qua bị lệch: cuốn theo thị trường bùng phát mà không lo xây dựng hạ tầng, bao gồm các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khuyến khích và tài trợ, tổ chức và quản lý mỹ thuật.

Một hội thảo để tổng kết, không hẳn thế, những họa sĩ suốt hai mươi năm qua không rời lao động nghệ thuật đã cảm thấy mọi sự tổng kết chỉ là tương đối, bởi từ giữa thời kỳ hậu hiện thực xã hội chủ nghĩa vừa rồi, khi hào hứng ban đầu suy giảm mạnh bởi sự trồi sụt của thị trường nghệ thuật, một dòng chảy khác nữa lại manh nha với những nghệ sĩ 8X, 9X, không quan tâm đến mọi đánh giá đã có, bắt đầu tiếng nói của thế hệ mình, chưa mạch lạc nhưng mới mẻ, mang xu hướng toàn cầu hóa. Sáng tạo nghệ thuật chẳng bao giờ không mới. Hai mươi năm ngoái lại để tự tin đi tiếp, vậy thôi!

Theo Nhân dân

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác