Mỹ thuật Việt Nam giao lưu quốc tế

Trong bối cảnh giao lưu quốc tế của văn học - nghệ thuật nói chung, mỹ thuật Việt Nam có những chuyển động nhất định. Tích cực nhận diện một thực trạng còn nhiều bất cập để tiếp tục hành trình phát triển, xứng tầm thời đại là trách nhiệm của những người làm công tác mỹ thuật và quan trọng hơn là ở mỗi nghệ sĩ.

Mỹ thuật Việt Nam giao lưu quốc tế - ảnh 1

Chặng đường rộng mở và khởi sắc

Thời kỳ 1945-1985, trong những năm tháng chiến tranh, nhiều gian khó, mỹ thuật Việt Nam trong dòng chảy của nghệ thuật cách mạng đã phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ. Từ năm 1986 đến nay, luồng gió đổi mới, hội nhập thổi vào đời sống văn học nghệ thuật nói chung và mỹ thuật nói riêng một nguồn sinh khí mới, đem đến sự chuyển mình mạnh mẽ. Nội dung, đề tài được mở rộng; các họa sĩ được vẽ theo cái mình thích. Hình thức nghệ thuật đã có những đột phá trong đổi mới, cách tân. Rõ nét, năng động nhất là tranh sơn dầu rồi đến sơn mài, điêu khắc và đồ họa. Từ dòng chủ lưu là  sáng tác theo phương pháp hiện thực XHCN, mỹ thuật đã phát triển mạnh nhiều xu hướng tạo hình khác nhau như trừu tượng, biểu hiện, siêu thực, lập thể... và rất nhiều các phong cách cá nhân đa dạng. Dần chia tay với khuynh hướng hiện thực cổ điển truyền thống, mỹ thuật trẻ bước nhanh vào giai đoạn hiện đại hóa ngôn ngữ tạo hình. Một bộ phận các nghệ sĩ trẻ đã bắt kịp và nhập cuộc với dòng nghệ thuật đương đại quốc tế ở các hình thức nghệ thuật mới, hậu hiện đại như pop-art, sắp đặt, trình diễn, video-art, digital-art...

Có thể nhận thấy trong thời kỳ mở cửa và hội nhập, rất nhiều điều kiện thuận lợi giúp nghệ sĩ tự do sáng tạo, công bố và tiêu thụ tác phẩm. Trong xu thế xã hội hóa, mỗi năm có hàng trăm triển lãm mỹ thuật trong và ngoài nước do các cơ quan, hội mỹ thuật trung ương, địa phương và cá nhân các tác giả, nhóm tác giả đứng ra tự tổ chức. Ðiều kiện giao lưu với nghệ sĩ nước ngoài góp phần kích thích sáng tạo ngày càng tốt hơn thông qua các triển lãm, trại sáng tác, giao lưu, sách báo, in-tơ-nét... Các ga-lơ-ry mỹ thuật phát triển với số lượng lớn. Tới nay ở hai trung tâm lớn là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và nhiều thành phố khác như Huế, Ðà Nẵng, Hội An, Nha Trang... có tới hàng trăm ga-lơ-ry. Không chỉ là nơi trưng bày bán tác phẩm, đây còn là nơi tổ chức triển lãm tranh, giới thiệu tác giả, tác phẩm với công chúng. Nhiều ga-lơ-ry đã liên kết với ga-lơ-ry nước ngoài góp phần đưa mỹ thuật nước nhà giao lưu thế giới. Mỹ thuật Việt Nam đang từng bước làm quen với những hoạt động mới như đấu giá, hội chợ, cu-ra-to (giám tuyển mỹ thuật)... Bước đầu đã hình thành một thị trường mỹ thuật trong nước và ngoài nước, nhiều nghệ sĩ đã sống được bằng nghề. Việc khẳng định cá tính sáng tạo, con đường nghệ thuật, "thương hiệu" riêng được các nghệ sĩ rất quan tâm. Ðội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, tính chuyên nghiệp được nâng cao, một số ngành thuộc lĩnh vực mỹ thuật, đồ họa ứng dụng và điêu khắc phát triển mạnh mẽ phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu của cuộc sống hiện đại...

10 năm đầu công cuộc đổi mới (1986-1995) hội họa thăng hoa, với một thế hệ họa sĩ để lại nhiều dấu ấn như: Trần Trọng Vũ, Ðặng Xuân Hòa, Hà Trí Hiếu, Hồng Việt Dũng, Nguyễn Quân, Lê Huy Tiếp, Lê Quảng Hà, Lê Thiết Cương, Ðào Hải Phong, Hoàng Hồng Cẩm, Hoàng Phượng Vỹ, Ðinh Quân, Bửu Chỉ, Ðỗ Quang Em, Nguyễn Tấn Cương, Nguyễn Trung Tín, Hồ Hữu Thủ... Từ năm 1995 trở lại đây, tuy không ồn ào sôi động, mỹ thuật vẫn có sự chuyển động với những tên tuổi mới tiếp tục được khẳng định như: Nguyễn Bảo Toàn, Ðinh Thị Thắm Poong, Ðinh Ý Nhi, Nguyễn Bạch Ðàn, Trần Việt Phú, Mai Duy Minh, Hà Mạnh Thắng, Ðào Quốc Huy, Phan Hải Bằng, Tô Trần Bích Thúy...

Có thể nói, công cuộc đổi mới và giao lưu quốc tế đã thật sự mở rộng cánh cửa, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật. 

Quan niệm "cái mới, lạ là cái đẹp" và những yếu tố cản đường hội nhập

Sáng tạo mỹ thuật ngày càng có nhiều đường hướng, tuy nhiên còn nặng về tìm hình thức. Ðặc điểm dễ thấy của nhiều tác phẩm là lạ so với tranh hiện thực nhưng mờ nhạt về nội dung. Một thứ hình thức theo khuynh hướng trừu tượng hoặc pha trừu tượng thoạt nhìn thấy lạ, vui mắt song lại rất chung chung, gợi liên tưởng đến sự vay mượn các hình thức mô-đéc ở khuynh hướng này, trường phái nọ. Còn hình thức đích thực của ngôn ngữ chất liệu thì lại chưa được khai thác. Nhiều họa sĩ dường như chỉ coi chất liệu thuần túy là phương tiện sử dụng làm tranh mà chưa chú ý khai thác khả năng, thế mạnh diễn tả của nó. Chẳng hạn chất trong sâu, huyền bí, lộng lẫy của sơn mài giờ đây hiếm thấy, mà bị pha tạp như: gắn vỏ trứng bằng keo con voi, mặt tranh gồ ghề, thậm chí còn gắn thêm nhiều thứ; bạc, vàng không đủ tuổi lại dùng sơn công nghệ nhanh khô thay cho việc ủ khô. Hay vẻ mỏng manh, mịn màng, thanh tao huyền ảo của lụa giờ đây nhiều lúc không còn bởi bị đưa cả các chất liệu phủ đè vào làm mặt tranh bì cứng, bố cục lại ôm đồm nhiều thứ nên người xem không còn nhận ra tranh lụa mà nhầm là bột mầu hoặc tem-pê-ra...

Một số loại hình nghệ thuật đương đại như trình diễn, sắp đặt... phát triển, mang lại sự phong phú cho đời sống nghệ thuật nước nhà với nhiều cuộc triển lãm, trình diễn, festival... Tuy nhiên các loại hình mới này chưa được các nhà quản lý nghệ thuật quan tâm đúng mức ít được đầu tư, phát triển như một nhu cầu tự thân của các họa sĩ trẻ. Bên cạnh những thể nghiệm thành công còn một  số trường hợp do chưa nắm được bản chất của loại hình, quan niệm lệch lạc, chưa biết vận dụng sáng tạo những phong cách, thủ pháp nghệ thuật hiện đại cho phù hợp mỹ cảm truyền thống dân tộc nên đã biến các hoạt động này trở thành tầm thường, phi nghệ thuật, gây phản cảm và ấn tượng không tốt với công chúng.

Như vậy không phải cứ cái gì mới, lạ là đẹp. Tìm tòi, sáng tạo để mang đến cái đẹp vừa mới mẻ hiện đại lại vẫn giữ được giá trị truyền thống cả ở hình thức biểu hiện lẫn chiều sâu tư duy, hình tượng mới là điều đáng quý. Công ước UNESCO về đa dạng văn hóa năm 2006 đã nhấn mạnh đến việc giữ gìn bản sắc riêng để bảo đảm sự đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới. Hòa nhập, toàn cầu hóa không có nghĩa là xóa nhòa, hòa tan, đồng nhất các yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc. Với một nền mỹ thuật có bề dày truyền thống và mang đậm bản sắc riêng của chúng ta, đó là điều hết sức quan trọng.

Bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển, cơ chế thị trường có những mặt tác động trái chiều. Dễ nhận thấy hoạt động mỹ thuật đang bị thị trường hóa. Nhiều tác phẩm vẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua, tạo nên những làn sóng tác phẩm vẽ theo một đề tài hoặc một số lối vẽ ăn khách. Một số họa sĩ quan niệm tác phẩm đỉnh cao của mỹ thuật không phải ở nội dung tư tưởng, ngôn ngữ nghệ thuật mà ở giá bán cao, họa sĩ tài năng là người bán được nhiều tác phẩm. Cũng từ đó xuất hiện các tác giả nổi tiếng ảo do sự "lăng-xê" từ các nhà buôn tranh, các phương tiện thông tin đại chúng. Sự phân hóa trong lực lượng sáng tác về quan niệm, điều kiện sống, làm việc, giao lưu thể hiện ở chỗ bên cạnh một số họa sĩ giàu lên từ việc bán tác phẩm, làm công trình, còn đa số có mức sống trung bình, một số khác sống rất khó khăn do tuổi cao sức yếu, khó tiếp cận, đáp ứng yêu cầu của thị trường, không bán được tác phẩm.

Một thị trường tác phẩm mỹ thuật đang được hình thành trong nước. Còn ở nước ngoài, mỹ thuật Việt Nam chưa được quảng bá đúng mức (chủ yếu do các nhà sưu tập, ga-lơ-ry và cá nhân tự tổ chức) nên chưa có vị trí và giá trị cao trên thị trường mỹ thuật quốc tế. Ðiều đáng quan tâm hiện nay là vai trò của các ga-lơ-ry trong việc giới thiệu, quảng bá và tiêu thụ tác phẩm. Trên thực tế, các ga-lơ-ry hoạt động mang tính chuyên nghiệp chưa nhiều; chủ yếu là các ga-lơ-ry nhỏ, nhiều tác phẩm chất lượng thấp, tranh chép, tranh nhái lẫn lộn vì mục đích lợi nhuận. Một số xưởng chuyên sao chép tranh xuất hiện ở các thành phố lớn. Ðó chính là nguyên nhân của nạn vi phạm bản quyền làm nhức nhối đời sống mỹ thuật nước nhà lâu nay. Rất nhiều tác phẩm của các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái... bị làm giả để bán ra thị trường nước ngoài, kể cả đấu giá quốc tế. Gần đây nhất, việc một nhà đấu giá danh tiếng ở Hồng Công đem ra đấu giá năm tác phẩm của cố họa sĩ Bùi Xuân Phái, trong đó có đến bốn tác phẩm là tranh giả làm gia đình họa sĩ phải lên tiếng phản đối làm ảnh hưởng đến uy tín tác giả và mỹ thuật Việt Nam. Ðiều đáng chú ý nữa là những quy định, luật pháp quốc tế về hoạt động quảng bá, mua bán tác phẩm vẫn chưa được phổ biến và thực hiện ở nước ta. Nhiều nghệ sĩ sáng tác cũng chưa quan tâm đúng mức và cũng chưa có một cơ quan, tổ chức nào quan tâm giới thiệu những vấn đề này.

Theo nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật, khoảng hơn chục năm trở lại đây chúng ta chưa có tác phẩm đỉnh cao, dù điều kiện sáng tác đã có nhiều thuận lợi. Trước những tác động trái chiều của cơ chế thị trường, chưa được đào tạo đủ trình độ, tài năng và văn hóa về nghệ thuật dân tộc nên khá nhiều họa sĩ Việt Nam ít đi được dài trên con đường sáng tạo, cạn kiệt ý tưởng, lặp lại mình, rồi sa vào thương mại hóa nghệ thuật. Mạnh ở bản năng, sự khéo tay, sở trường trang trí nhỏ. Yếu ở nội dung, ý tưởng, tư duy sáng tạo lớn. 

Giao lưu quốc tế là cả một hành trình dài lâu, cũng là sự nhận thức, chuyển biến từng ngày, ở mỗi cá nhân họa sĩ trong quá trình không ngừng học hỏi, vươn lên. Nhìn thẳng những hạn chế để cố gắng vượt lên chính mình, đi tiếp trên con đường sáng tạo, tự tin, tự hào đưa mỹ thuật nước nhà sánh cùng các nền nghệ thuật trong khu vực và thế giới đòi hỏi bản lĩnh nghệ thuật và niềm say mê của người nghệ sĩ. Và một điều không thể thiếu được là sự quan tâm của những người làm công tác quản lý văn hóa nghệ thuật và toàn xã hội.

 

Họa sĩ Trần Khánh Chương (Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam): Ðiều trăn trở lớn của giới họa sĩ là vấn đề "đầu ra" cho các sáng tác, nhất là với những đề tài mà Ðảng và Nhà nước khuyến khích. Vì vậy bên cạnh việc động viên, tổ chức sáng tác, Nhà nước cần có kế hoạch đặt hàng, mua tác phẩm cho các bảo tàng, cơ quan. Cần có viện bảo tàng mỹ thuật ở các thành phố lớn nhằm giới thiệu mỹ thuật Việt Nam cho công chúng, khách du lịch và là nơi lưu giữ những tác phẩm có giá trị cho hậu thế...

 

Họa sĩ Lương Xuân Ðoàn (Phó Vụ trưởng Vụ Văn nghệ, Ban Tuyên giáo T.Ư): Những năm gần đây, hoạt động mỹ thuật lại trở nên im ắng, dù chúng ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi, các họa sĩ được ra nước ngoài nhiều hơn. Trong những nguyên nhân làm chậm lại tiến trình hội nhập của mỹ thuật như nạn tranh giả hoành hành, thị trường nội địa kém vì trình độ nghệ thuật công chúng chưa cao, sự đứng ngoài của luật pháp... thì trình độ và ý thức văn hóa của đội ngũ sáng tác là rất quan trọng. Song theo tôi, mỹ thuật Việt Nam vẫn đang có những chuyển động. Và sẽ có đột biến trong khoảng 5 - 10 năm tới.

 

Nhà phê bình mỹ thuật Lê Quốc Bảo: Tôi đặc biệt quan tâm đến hai điều bất cập của mỹ thuật hôm nay: Thứ nhất, đó là hệ thống pháp lý và hệ thống quản lý nhà nước về mỹ thuật vừa thiếu vừa lạc hậu. Chúng ta chưa có một hành lang pháp lý đủ mạnh, khả thi. Quản lý nhà nước còn đứng ở vòng ngoài. Thứ hai, hệ thống lý luận về văn học nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt. Trước đòi hỏi ngày càng cao của đời sống văn học nghệ thuật, việc đào tạo, xây dựng một đội ngũ lý luận phê bình là nhiệm vụ chiến lược hết sức quan trọng của các cơ quan lãnh đạo văn nghệ.

 

Họa sĩ Vi Kiến Thành (Phó Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm): Do đặc thù của ngôn ngữ tạo hình nên mỹ thuật Việt Nam hội nhập nhanh với thế giới. Vấn đề là thái độ ứng xử khi hội nhập như thế nào? Không phải cái gì thế giới có thì ta cũng phải có, cái gì nước ngoài làm thì ta cũng làm theo. Trong một thế giới phẳng thì bản sắc riêng như ngọn núi nhô lên khẳng định vị trí của mình. Ðể thúc đẩy quá trình hội nhập với thế giới, một trong những yếu tố quan trọng là phải xây dựng được thị trường mỹ thuật trong nước và hoàn thiện các văn bản quản lý tạo nên hành lang pháp lý phù hợp cho các hoạt động mỹ thuật.



Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác