Nguyễn Quân và câu chuyện mỹ thuật

Một buổi toạ đàm thú vị giữa độc giả với tác giả cuốn sách “Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20” sẽ diễn ra vào ngày 22.11 tới đây tại Nhà xuất bản Tri Thức .Độc giả không chỉ có các hoạ sĩ, các nhà nghiên cứu mà còn có các bạn trẻ yêu thích mỹ thuật, điều đó đủ thấy sức hấp dẫn của cuốn sách cũng như tác giả của nó, hoạ sĩ Nguyễn Quân.

Nguyễn Quân và câu chuyện mỹ thuật - ảnh 1

Công chúng hội hoạ đã biết đến Nguyễn Quân từ những năm tháng đầu tiên của thời kỳ Đổi mới khi ông giữ vai trò nòng cốt của Hội Mỹ thuật VN và Nhà xuất bản Mỹ thuật. Trước đó, cuối những năm 70 của thế kỷ trước, từ Văn phòng Phủ Thủ tướng có một Nguyễn Quân viên chức mạnh dạn bước ra ngoài quan lộ, rẽ hẳn sang con đường hội hoạ bằng những sáng tác chẳng hề giống ai và những bài viết đầu tiên về mỹ thuật trên báo Văn Nghệ. Năm 1978 ông được mời về làm Phó Chủ nhiệm Khoa Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, một khoa mới thành lập của Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội.

Với vai trò này, ông đã xây dựng về mặt cơ bản một giáo trình mới về lý luận, phê bình và lịch sử mỹ thuật có tính chất hệ thống. Và cũng từ đó những cuốn sách của ông  được lần lượt xuất bản như: “Nghệ thuật tạo hình VN hiện đại” (1986), “Ghi chú về nghệ thuật” (1990), “Tiếng nói của hình và sắc” (1986), “Con mắt nhìn cái đẹp” (2004), cùng với ba cuốn viết chung với hoạ sĩ Phan Cẩm Thượng “Điêu khắc cổ điển VN”, “Mỹ thuật của người Việt” và “Mỹ thuật ở Làng”. Có thể nói ông đã thành danh bằng những tác phẩm đó với một phương pháp luận rất riêng biệt. Cuốn “Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20” được ông hoàn thành bản thảo từ 2005 và có lẽ là cuốn tâm đắc nhất của ông. Ở cuốn này, ông không chỉ dừng lại ở câu chuyện lịch sử mỹ thuật mà ông đã đưa vào dòng chảy đó những ý kiến bình luận của riêng ông trong từng chặng đường mỹ thuật. Người đọc bị lôi cuốn vào không gian sáng tạo của nghệ sĩ qua từng thời kỳ lịch sử. Về mặt lý luận, ông trình bày hệ thống và những nguyên do tác thành cho sự phát triển của nền mỹ thuật nước nhà.

Ông chia đời sống mỹ thuật thành 4 thời kỳ, đồng thời với tiến trình lịch sử đất nước. Thời kỳ thứ nhất, những năm đầu thế kỷ 20 là sự xuất hiện đầu tiên của kiến trúc, từ nhà thờ Phát Diệm đến lăng Khải Định, những yếu tố mới của thẩm mỹ phương Tây dẫn đến cuộc gặp gỡ Đông Tây trong nghệ thuật tạo hình. Thời kỳ thứ hai là mỹ thuật Đông Dương từ 1925 đến 1945. Đây chính là giai đoạn mở đầu của mỹ thuật VN hiện đại và cũng là khởi đầu cho văn hoá đô thị. Ở những trang viết này ông đã dành tình cảm trân trọng đến những người thầy người Pháp đầu tiên sang mở Trường Mỹ thuật Đông Dương và những học trò xuất sắc sẽ khởi đầu cho một nền mỹ thuật VN hiện đại.

Tuy nhiên, ông đã nhìn ra được sự kết thúc sớm sủa của một nền mỹ thuật mà đề tài chủ yếu là phụ nữ đẹp và phong cảnh, hoàn toàn tách biệt khỏi đời sống nhọc nhằn của một xã hội lệ thuộc. Ông viết: “Mỹ thuật Đông Dương thuộc địa vừa bình mình đã hoàng hôn, chỉ vài năm sau 1945, người ta đã nhìn nó như nhìn một quá khứ xa xăm, đẹp đấy nhưng có phần xa lạ và không bao giờ trở lại nữa. Đó có thể là một “bi kịch”, nhưng chính nhờ thế mà giai đoạn mỹ thuật Đông Dương sẽ giữ mãi vị trí danh dự của nó trong khởi đầu hình thành nền mỹ thuật VN hiện đại. Những học sinh xuất sắc của thế hệ trường Đông Dương đã trở thành những bậc thầy của một nền mỹ thuật mới…”. Nền mỹ thuật mới mà ông đề cập đến chính là thời kỳ thứ ba của lịch sử mỹ thuật, thời kỳ hai cuộc chiến tranh và đất nước bị chia cắt 1945-1975.

Giai đoạn này mỹ thuật VN bất chấp những hạn chế do sự giáo điều, công thức làm cho phần đông các tác phẩm chỉ có giá trị tuyên truyền cổ động, minh hoạ tức thời, đời sống sáng tạo mỹ thuật chưa bao giờ có diện đề tài rộng như vậy, dần hình thành một nền mỹ thuật hoàn chỉnh. Ông nhận định: “Đối với tự do cá nhân và tìm tòi sáng tạo, bất chấp tính công thức và sơ lược đã có lúc tràn lan kéo dài làm cho đổi mới trở thành nhu cầu cấp bách, giai đoạn này của nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa đã sản sinh một thế hệ nghệ sĩ hiện đại khác hẳn anh tiểu tư sản học sinh thời Pháp thuộc hay anh “cán bộ văn nghệ - vệ túm” thời kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm của các bậc thầy hiện đại xuất hiện thời kỳ này là thành tựu xuất sắc…”. Cách đánh giá như thế của ông đối với một thời kỳ thường hay bị phủ nhận này, như thế thật công bằng.

Thời kỳ thứ tư có tên: “Phần tư cuối thế kỷ hoà hợp - đổi mới - hội nhập” được ông dành cho nhiều trang viết hơn cả cũng là bởi thời kỳ đổi mới đã mở toang cánh cửa cho hội hoạ VN nhìn ra thế giới và để thế giới nhìn vào VN. Ông đã phân tích kỹ lưỡng một dòng chảy mới của mỹ thuật, một tâm lý sáng tạo mới của từng nghệ sĩ tiêu biểu, cái được và cái mất của thị trường tranh mới hình thành ở VN. Để kết thúc chương này ông viết: “Trăm năm là ngắn… nhưng người nghệ sĩ mỹ thuật đã đi những bước dài. Thoát thai từ người thợ thủ công của các phường nghề gia nhập lớp trí thức tinh hoa của xã hội, chiếm một vị thế đáng kính trọng trong đời sống văn hoá văn nghệ…”. Đây có lẽ cũng là đánh giá tổng quát của ông cho câu chuyện dài về mỹ thuật Việt Nam.

 

Theo LĐ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác