Trăn trở hội họa Việt Nam

Cách đây bảy năm, tạp chí Asiaweek thực hiện số báo kỷ niệm 25 năm ngày xuất bản số đầu tiên (1975-2000), cũng là dịp tổng kết 1/4 thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ thứ II (1975-2000), số báo ra ngày 24-11-2000 đã đưa ra những đánh giá, nhận định trên nhiều lĩnh vực. Đáng chú ý là trong những đánh giá về văn hóa - nghệ thuật của khu vực, Asiaweek đã đặc biệt ca ngợi lĩnh vực hội họa tại Việt Nam.

Phác thảo của Bùi Xuân Phái - hiện nay có rất nhiều tranh giả Phái trên thị trường.Phác thảo của Bùi Xuân Phái - hiện nay có rất nhiều tranh giả Phái trên thị trường.

Theo tạp chí trên, có ba sự nổi bật rõ nét nhất ở ba quốc gia Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam trong quãng thời gian 1/4 thế kỷ ấy. Ở Trung Quốc là các nhà làm phim, ở Ấn Độ là các nhà văn và ở Việt Nam là các họa sĩ.

Điện ảnh Trung Quốc, sau thời kỳ của các bộ phim nặng tuyên truyền, đã đạt được những thành tựu xuất sắc với những bộ phim gây chấn động thế giới như Cao lương đỏ, Cúc Đậu, Thu Cúc đi kiện... của Trương Nghệ Mưu; Vĩnh biệt ái nương, Thích khách... của Trần Khải Ca. Sự thành công của hai đạo diễn thuộc “thế hệ thứ tư” của điện ảnh Trung Quốc kéo theo thành công của nhiều đạo diễn các thế hệ sau và họ đã giúp đưa điện ảnh Trung Quốc ngang tầm thế giới. Cho tới nay, nhận định đó của Asiaweek vẫn còn nguyên giá trị. Không chỉ các đạo diễn mà nhiều diễn viên Trung Quốc đã trở thành ngôi sao điện ảnh thế giới như Củng Lợi, Lý Liên Kiệt, Chương Tử Di...

Trong khi đó các nhà văn Ấn Độ (sống trong nước và cả ở nước ngoài) đã liên tục giành được nhiều thành tựu lớn về văn học. Những tên tuổi như nhà văn nữ Arundhati Roy với tiểu thuyết best-seller Thượng đế của những điều nhỏ nhặt (The God of small things) bán được nhiều triệu bản in, được dịch hàng chục thứ tiếng (cả tiếng Việt) và đoạt giải Booker danh giá. Nhiều nhà văn Mỹ gốc Ấn cũng gây được sự chú ý đặc biệt của dư luận và báo chí trong những năm vừa qua, thậm chí lấn lướt các nhà văn Mỹ gốc Hoa như Amy Tan (tác giả Phúc Lạc Hội).

Còn với hội họa Việt Nam, đánh giá của Asiaweek cách đây bảy năm có thể đã được căn cứ trên nhiều phương diện, đặc biệt là sự trỗi lên của các họa sĩ Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới với chính sách mở cửa ra thế giới bên ngoài. Chỉ trong một thời gian trên dưới một thập niên, hội họa Việt Nam đã mau chóng tìm được một chỗ đứng vững vàng, đồng thời làm nên một thị trường tranh Việt Nam khá sôi động trong khu vực Đông Nam Á và rộng hơn nữa.

Cùng với các bậc thầy của thời kỳ Đông Dương, nhiều tác giả mỹ thuật Việt Nam đương đại, có nhiều người còn rất trẻ, đã sánh vai với các đồng nghiệp châu Á tại các triển lãm, hội chợ nghệ thuật và cả trong các cuộc đấu giá tranh trong khu vực. Có thể nói, tác động rõ nét nhất của chính sách Đổi mới trong lĩnh vực văn học nghệ thuật được thấy trong hội họa, lĩnh vực ít chịu sự ràng buộc của những giáo điều thẩm mỹ thời bao cấp.

Nhưng đáng buồn là sau thời kỳ phát triển ấy, hội họa Việt Nam đã dần chựng lại và gần như dậm chân tại chỗ những năm vừa qua. Nhiều họa sĩ vừa có tên tuổi đã sớm bằng lòng với thành công của mình, cứ thế nhai lại mình đến độ mòn vẹt (chưa kể một lớp người chuyên tâm làm “tranh nhái” - hễ thấy ai bán được tranh thì tức tốc và ồ ạt vẽ na ná theo, thậm chí copy y hệt!

Trăn trở hội họa Việt Nam - ảnh 2
Khá nhiều gallery ở Việt Nam chỉ là nơi buôn bán tranh dạng hàng lưu niệm.
Có thể thấy ở một cái tên bán tranh nhái với nhiều địa chỉ khác nhau - nhưng cũng tự xưng là gallery - tại TP.HCM, nơi chuyên trị sao chép tranh của hết họa sĩ A của Hà Nội đến nữ họa sĩ B của Sài Gòn chỉ vì tranh của họ bán được). Một nhà phê bình nước ngoài gọi đó là tình trạng “đồng loạt hóa” trong hội họa Việt Nam đương đại, đáng buồn là nó diễn ra ngay trong số các nghệ sĩ trẻ không phải thiếu tài năng! Và nhiều người còn nói đến một thứ tranh “đèm đẹp” giống hệt nhau, chẳng có cá tính và rất hiếm thái độ dấn thân nơi tác giả.

Điểm đáng kinh ngạc là ở một đất nước hơn 80 triệu dân, con số các gallery đúng nghĩa lại quá ít, phần lớn là các nơi buôn bán tranh theo kiểu hàng lưu niệm cho du khách nước ngoài. Ngay cả các bảo tàng mỹ thuật cỡ lớn như Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM cũng không có nhiều tác phẩm có giá trị thật sự, trong khi ở các nước, hệ thống bảo tàng mỹ thuật là điểm thu hút chính với du khách.

Điều đáng chê trách nhất mà nhiều người đã từng nêu (cả trong lẫn ngoài nước) là tình trạng tranh giả tràn lan, kể cả tranh giả của các “mét” (maître - bậc thầy) mà tiêu biểu là tranh giả Bùi Xuân Phái. Tình trạng đó khiến “nền hội họa Việt Nam rơi vào tình trạng thất tín và ta chỉ có thể thấy lo sợ cho sự thiếu tri thức và sự không biết xấu hổ của vô số người can dự vào vụ việc” (theo Corinne de Ménonville, trong sách Hội họa Việt Nam, hành trình giữa truyền thống và hiện đại).

Nên không lạ khi tên tuổi các họa sĩ Việt Nam không thấy xuất hiện trong các sự kiện nghệ thuật lớn, quan trọng của khu vực và châu Á thời gian qua; thêm nữa là mặt bằng giá tranh Việt Nam hiện khá thấp so với nhiều nước châu Á, đặc biệt là so với giá tranh tăng vọt của các tác giả đương đại Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia... Hơn 10 năm trước, giá tranh Nhạc Mẫn Quân không cao hơn các tác giả Việt Nam cùng thời với anh nhưng bây giờ thì gấp nhiều lần, thậm chí đã đạt giá triệu USD!

Bao giờ hội họa Việt Nam đương đại tìm lại được chỗ đứng như tạp chí Asiaweek từng trang trọng nhận định cách đây chưa đầy một thập niên?

Theo DNSG

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác