Tranh lụa-nguy cơ mai một

Tranh lụa Việt nam đã từng làm nở mày nở mặt cho nền mỹ thuật Việt nam, sánh vai cùng các cường quốc về tranh lụa như Trung Quốc, Nhật Bản, với những nét sáng tạo mới lạ, tạo nên một trường phái riêng, đã hơn nửa thế kỷ qua. Vậy mà giờ đây tranh lụa đã vắng bóng trên thị trường và các hoạt động mỹ thuật quan trọng ở nước ta.

Tranh lụa-nguy cơ mai một - ảnh 1

Do chuyên trách mảng sân khấu của Đài TNVN nên Vũ Hà đã có điều kiện thường xuyên theo dõi hoạt động kịch trường trong toàn quốc. Từ vở diễn, thị trường đến chân dung nghệ sỹ được ông nhận định và đánh giá theo góc nhìn riêng. Dù khen quá lời hay chê đến mức nghiệt ngã nhưng những bài phê bình của ông bao giờ cũng trên tinh thần xây dựng, chính vì thế ông luôn nhận được sự trân trọng của các văn nghệ sỹ. Ông là cộng tác viên thường xuyên mảng sân khấu của Báo Hànộimới từ những năm 80 thế kỷ trước cho đến tận ngày ông ra đi. Nghỉ hưu nhưng sân khấu vẫn lôi cuốn ông và ông tự nguyện vào vòng xoáy kịch trường. Ông hăng say lao vào hoạt động báo chí, giảng dạy và những người yêu tiếng nói của NSƯT Vũ Hà vẫn có thể thấy giọng gằn gằn của ông trên sóng của Đài TNVN mỗi tuần một lần đều đặn trong các chương trình bình luận "Đằng sau vở diễn". Ngay cả khi sức khỏe có vấn đề, ông vẫn cố gắng miệt mài với công việc. Tháng
Không mấy hoạ sĩ trẻ theo đuổi vẽ tranh lụa, kế thừa những thành tựu vẻ vang đã được các lớp hoạ sĩ lớp trước đã gây dựng bấy lâu nay. Vài thập kỷ qua, hầu như tranh lụa đã bị các thể loại tranh khác lấn át, đẩy lùi như một mặt hàng lỗi mốt. Vì sao vậy? Có phải đã đến lúc tranh lụa chịu thủi thủi như một gái già chờ đến hồi tàn tạ khuất lấp với thời gian?
Thời oanh liệt…!

Mỗi khi nói đến tranh lụa, chẳng thể ai quên “ông tổ” của nó là danh hoạ Nguyễn Phan Chánh (1892-1984). Nói vậy, bởi trước đó trong lịch sử hội hoạ Việt Nam, chưa hề có ai gây dựng được sự nghiệp qua dòng tranh cổ này. Cái tên Nguyễn Phan Chánh đã gây xôn xao trong Hội chợ Triển lãm Paris, năm 1931, với các tác phẩm tranh lụa: “Chơi ô ăn quan”, “Vo gạo”, “Xem bói”, “Lên đồng”…Khi ấy, báo chí phương tây còn nêu danh ông như một hoạ sĩ tiêu biểu cho cả nền hội hoạ đông Dương. Sau này, số phận lưu lạc nhiều tranh của ông cũng long đong, lận đận. Năm 1938, ông gửi 14 bức đi dự triển lãm tại Nhật, nhưng rồi do chiến tranh loạn lạc số tranh trên đã mất tung tích. Quả đây là một sự thiệt thòi lớn cho nền hội hoạ Việt Nam. Ngoài bức tranh “Ô ăn quan” có thời được nhà sưu tầm Đức Minh lưu giữ, còn một số bức nổi tiếng khác như “Lên đồng”, “Rửa rau cầu ao”… nằm ở một số nhà sưu tập Pháp, thì riêng bức tranh rất có giá trị “Róc mía”, sau hơn 70 năm lưu lạc, người nhà ông gần đây mới biết địa chỉ người đang giữ và treo nó ở đâu. Sau này, ông còn để lại nhiều bức lụa tuyệt hảo khác, được lưu giữ tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam như: “Trăng tỏ”, “Trăng lu”, “Sau giờ trực chiến”, “Chiều về tắm cho con”, “ Đan mây”, “Đi chống hạn”…

Hoạ sĩ Trịnh Cung đã đánh giá hoạ sĩ nguyễn Phan Chánh là người đã tạo ra một diện mạo tranh lụa không lẫn với bất kể một phong cách nào trên thế giới và đã dựng được một trường phái riêng tranh lụa Việt Nam. Với những đóng góp to lớn với hơn 170 tác phẩm tranh lụa và mang tính tiên phong trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh đã được Đảng và Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, năm 1996.

Sau danh hoạ Nguyễn Phan Chánh có một số cây cọ nổi tiếng khác chuyên vẽ tranh lụa như Nguyễn Thụ, Phan Thanh Liêm, trước đây hoặc Lê Ngân Chi sau này…cũng đã tiếp tục tạo dựng con đường “tơ lụa” Việt nam. Đáng chú ý, không ít hoạ sĩ nổi tiếng khác cũng đã để lại nhiều bức tranh lụa đẹp như: “Con đọc bầm nghe” của Trần Văn Cẩn; “Hành quân mưa”của Phan Thông; “Cá” của Vũ Giáng Hương. Bên cạnh đó còn có những cái tên như Mai Trung Thứ, Đỗ Phấn, Lê Kim Mỹ, Mộng Bích, Kim Bạch, Đặng Thu Hương, Trần Thanh Ngọc… cũng đã có nhiều thành công với tranh lụa.

Có thể nói nền hội hoạ nước ta có tới nửa thế kỷ, tranh lụa đã phát triển với nhiều thành công rực rỡ tính từ những năm đầu của thập niên 30, mà danh hoạ Nguyễn Phan Chánh khai sáng.

….Nay còn đâu?

Tranh lụa thật sự đến thời xa sút, nhất là khi đối diện với cơ chế thị trường, cùng sự chọn lọc khá đa dạng và gay gắt của những người chơi tranh. Dễ đến hơn hai chục năm qua, người ta không thể nhớ nổi một cái tên sáng giá cho dòng tranh lụa. Trong nhiều cuộc triển lãm hội hoạ đều vắng bóng các gương mặt tranh lụa; hoặc nếu có thì cũng tỏ ra leo lắt mờ nhạt, nếu không nói là lạc lõng, lép vế trước các tác phẩm sơn dầu, mầu nước rực rỡ, hay lu mờ trước sự óng ả, long lanh của chất liệu sơn mài...Nghĩa là nhiều hoạ sĩ không còn ham muốn thử thách trước những sự vận động phức tạp và đầy cam go của con đường tơ lụa này nữa. Vì thế mà tranh lụa ngày càng thưa thớt và vô tình đã bị xếp xuống hạng thứ cấp, trở thành dòng tranh souvenir rẻ tiền. Vì sao vậy?

Có người lý giải một cách chân tình rằng, lụa là chất liệu khó tính, kén chọn người ươm dệt, kén người vẽ và cả người thưởng ngoạn, vì tranh lụa biến ảo lắm. Lại có người bộc bạch thẳng tuột cho là, tranh lụa tự đánh mất mình bởi sự cũ kỹ mơ màng về nội dung, nhạt nhẽo về tình cảm. Kèm theo đó là sự ỳ ạch về kỹ thuật, chất liệu và mầu sắc. Có nhà chuyên môn còn nhấn mạnh về nội dung, bởi đa phần các tác giả vẽ lụa vẫn sa vào các chủ đề cũ, nhàm chán như: phong cảnh, tĩnh vật, thiếu nữ áo cài, thiếu nữ miền núi, sinh hoạt nông thôn, làng chài… với một lối vẽ tả, kể lể, êm đềm, thiếu nhịp sống mới.

Nhưng có lẽ các ông chủ kinh doanh lại mách bảo được nhiều điều có lý hơn lẩn khuất sau cánh cửa Galery. Ấy là sự mờ nhạt về ấn tượng của tranh lụa đối với sự bắt mắt và hút khách của các chất liệu khác, kể cả ở dòng tranh trang trí, làm hàng. Bên cạnh đó sự phát triển ồ ạt của các trường phái nghệ thuật như trừu tượng, biểu hiện, siêu thực, pop-art, đồ hoạ… đều bị dừng bước khi va vào cái gọi là “công nghệ “ thủ công, với nhiều công đoạn khi thể hiện trên chất liệu lụa. Hơn nữa, tranh lụa thời gian bảo quản ngắn, dễ bị ẩm mốc, dễ cháy, khó giữ, khó bán là vì vậy. Nhưng xét về khía cạnh nghệ thuật hiện chưa có người dấn thân tìm ra cách giải thoát.Và có một ông chủ hàng tranh thốt lên, chính lụa bị các hoạ sĩ bỏ rơi chứ không phải thị trường; khách vẫn chịu chơi và biết chờ đợi, chứ đừng đổ lỗi cho cơ chế.

Tất nhiên, sự sa sút của dòng tranh quý phái này đã làm nhiều nhà quản lý sốt ruột, thị trường thì vẫn chờ đợi; nhưng có lẽ chính các hoạ sĩ, nhất là các hoạ sĩ trẻ còn thờ ơ. Có người đã phải căng lên khẩu hiệu: SOS! Và rất nhiều hoạ sĩ mong mỏi sự đổi mới và chấn hưng dòng tranh lụa Việt Nam, bởi nó đã từng là “đặc sản” của nền hội hoạ nước nhà, trong một thời gian dài.

Thật ra khoảng gần 10 năm qua, lác đác có một số cuộc triển lãm chuyên lụa cũng đã được tổ chức nhằm thể hiện sự quan tâm của các nhà quản lý và sự cố gắng phi thường của một số hoạ sĩ còn nhiều tâm huyết với tranh lụa. Trước hết đó là phòng tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, năm 2002, nhân kỷ niệm 110 năm, ngày sinh của danh hoạ, gồm 74 tác phẩm được bầy tại TP HCM. Hai năm sau là phòng tranh của hoạ sĩ Phạm Thanh Liêm, tại 16 Ngô Quyền, HN, với 50 bức tranh lụa, sau hơn 30 năm ông theo đuổi dòng tranh khó tính này. Đáng chú ý nhiều tác phẩm của ông đã có sự đổi mới về kỹ thuật chất liệu và mầu sắc để làm cho tranh lụa không còn bị lạc hậu với sự hoà nhập chung trên thế giới.

Tiếp sau phòng tranh chuyên lụa của nữ hoạ sĩ Lê Ngân Chi hồi năm 2006, thì mãi đến hai năm sau các nhà quản lý mới tổ chức được triển lãm tranh lụa toàn quốc, gồm 154 tác phẩm được chọn lọc từ 578 tranh của nhiều thế hệ hoạ sĩ trong cả nước, từ năm 1930 đến nay. Đây là cuộc triển lãm tranh lụa đầu tiên của nước ta, sau 80 năm chờ đợi, nhằm tôn vinh dòng tranh đang bị mai một theo thời gian và khích lệ các tầng lớp hoạ sĩ nhiệt tình tham gia khôi phục lại giá trị nghệ thuật hội hoạ mang thương hiệu nước nhà.

Đó là những hoạt động hết sức cố gắng của các nhà quản lý, nhưng đấy chỉ là bề nổi và chỉ có giá trị nhìn nhận lại những cái đã có. Còn về phương hướng phát triển, có lẽ còn phải đặt ra cách nhìn và tổ chức thực hiện triệt để, mới giải toả được những điều đã mất đi trong hoài bão của các hoạ sĩ trẻ đối với tranh lụa. Bởi lẽ hiện tại thị trường vẫn vắng bóng tranh lụa và các cuộc triển lãm vẫn mong chờ các hoạ sĩ dấn thân vào dòng tranh đầy chất biến ảo này.

Chấn hưng cách nào?

Tổ chức, đào tạo và đầu tư, có lẽ trước hết là như vậy sau đó mới đến bước tập trung có trọng điểm về lực lượng và đề tài. Sự mai một và mất hút dòng tranh cổ Kim Hoàng và tình trạng lay lắt của dòng tranh thờ Hàng Trống, cũng như sự thấp thỏm của làng tranh dân gian Đông Hồ là những bài học rất đáng chú ý về công việc bảo tồn gìn giữ và phát huy do thuộc về cách quản lý. Nếu chỉ đổ cho sự biến động của thị trường thì đó chỉ là hành vi thiếu trách nhiệm và sự bất lực của tư duy. Dòng tranh lụa đang có nguy cơ mai một, nó đang ngưng trệ bởi sự hoang mang của các hoạ sĩ trước sự đổi mới nhanh chóng của các hình loại và chất liệu khác.

Tuy nhiên, lụa vẫn sẽ là lụa, đấy sức sống khi hoạ sĩ mạnh dạn sáng tạo, đổi mới về chất liệu, mầu sắc; Đặc biệt và trước hết là sự cải thiện về nội dung, đề tài không chỉ dừng lại ở nét sinh hoạt đời thường, chân dung, mà cần mở rộng biên độ đề tài như: lịch sử, công nghiệp, con người và thời cuộc… Chính giải thưởng mỹ thuật năm 2009 mới đây, dành cho bức tranh lụa “Tam Bạc những ngày đánh Mỹ”, của hoạ sĩ Việt Anh, ở Hải Phòng là một sự cởi mở và đổi mới điển hình từ cách nhìn và tạo niềm hy vọng vào một cuộc chấn hưng đối với công cuộc phát triển trường phái tranh lụa Việt Nam trong tương lai không xa. Đặc biệt, hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, một cơ hội quý giá để các hoạ sĩ phát huy nghệ thuật của dòng tranh đậm chất Tràng An này.


Theo HNM

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác