Vài nét về tượng vườn và trại điêu khắc

Sau gần mười năm làm các trại điêu khắc ở các thành phố, hình thức này đang trở thành một phong trào gắn với các Festival phục vụ du lịch. Cùng với nó, một thể loại điêu khắc mới đã xuất hiện ở Việt Nam, đang được yêu thích nhưng cũng bị hiểu nhầm ở nhiều điểm.

Mùa xuân đá của Vi Thị Hoa.Mùa xuân đá của Vi Thị Hoa.

Tượng vườn, vườn tượng, trại điêu khắc và Festival là những thứ khác nhau, không nên và không thể nhập lại làm một như phổ biến hiện nay.

Vườn tượng là một công viên tập trung nhiều tượng, vừa là một không gian điêu khắc vừa là một công viên nghỉ ngơi giải trí. Nó là một địa chỉ văn hóa cộng đồng. Vườn tượng cao cấp tuyển chọn các tác phẩm xuất sắc mang tính một bảo tàng nghệ thuật ngoài trời. Nhiều bảo tàng hiện đại có khu này trong khuôn viên của mình, mở rộng không gian trưng bày ra ngoài tòa nhà. Loại thứ hai ta chưa có. Vườn tượng trên bến du thuyền sông Hương Huế và công viên dự kiến ở chân núi Sam An Giang là những thí dụ  thuộc loại  thứ nhất.

Trại điêu khắc là một hoạt động sáng tác nghệ thuật. Kết quả của nó có thể được dùng tùy ý chứ nó không phải là công nghệ để tạo ra một vườn tượng. Một trại không thể có đủ tác phẩm có chất lượng cho một vườn tượng đẹp. Cũng có thể phân tán, sắp đặt các tác phẩm của một trại vào một vườn tượng, một bảo tàng ngoài trời  hay bất kỳ địa điểm nào cho thích hợp. Festival là một hoạt động văn hóa tổng hợp mà trại điêu khắc có thể là một bộ phận song không thể lạm phát Festival nào cũng làm trại. Càng không nên quan niệm thô sơ trại điêu khắc sẽ làm ra một sản phẩm du lịch. Việc gộp nhập cả bốn việc trên làm một như hiện nay dẫn tới nhiều bất cập hạn chế cả sự phát triển điêu khắc cũng như việc nâng cao chất lượng thẩm mỹ của môi trường.

Trên thực tế, tìm mời được tác giả đúng cho từng trại là khó nhưng lại quyết định thành công. Việc một tác giả nước ngoài hay Việt Nam  liên tục dự mấy trại liền, có người "chạy sô" một lúc hai trại, mà yêu cầu các trại đều ná ná nhau thì việc tác phẩm bị lặp lại là dễ hiểu. Ngay từ khâu đầu khuynh hướng nghệ thuật và chất luợng nghệ thuật, sự tương thích của tác phẩm sau này đối với địa phương đã được xác định tới hơn 50% nhưng khâu này lại hoàn toàn bị bỏ quên. Có thể nói Ban tổ chức biết là cần làm trại nhưng chưa  biết thấu đáo  trại gì, mình cần cái gì, không gian văn hóa của địa phương cần cái gì, đô thị của mình cần cái gì. Do vậy các tác phẩm làm cho Huế hay An Giang hay Vĩnh Phú... cũng chẳng khác  nhau nhiều lắm.

Sau khi hoàn thành tác phẩm, các tác giả ra về và không biết tượng của mình sẽ được đặt để ra sao, nhiều khi bị bày nhầm (như tranh treo ngược) cũng chịu. Quan niệm gộp nhập trại - Festival - vườn tượng không hiệu quả. Các tác phẩm của trại thứ hai ở Huế được dàn thành một công viên mới bên bến du thuyền tạo thành một địa chỉ văn hóa mới của thành phố có thể nói là thành công. Trong khi đó, nhiều tượng của trại thứ ba không phù hợp với vườn Phú Xuân một di tích lịch sử   văn hóa truyền thống. Trại một trước trường Quốc học bày khá lộn xộn và không có gì đáng chú ý. Việc bày như hàng "mỹ nghệ" ở Bờ Hồ Hà Nội là rất phản tác dụng! Việc quy tập tượng trên các bục đồng loạt và quy định "cấm sờ vào hiện vật" như ở Tao Ðàn TP Hồ Chí Minh cũng làm mất đi hiệu quả thẩm mỹ của tượng vườn. Cần có sự sàng lọc (vì chắc chắn trại nào cũng có những tượng không đạt yêu cầu) là cần thiết.

Thực tế tiềm năng tượng vườn của nước ta lớn nhưng năng lực của các tác giả còn hạn chế.  Ở các trại ở Huế, TP  Hồ Chí Minh, An Giang mà tôi được tham dự, có thể thấy các tác giả nước ngoài từ châu Á, Âu hay Mỹ, già và trẻ, nam và nữ đều tư duy điêu khắc thoải mái, tự do và sâu hơn chúng ta. Trừ một số ít người nhận xin tài trợ để du lịch, làm việc khá tắc trách thì họ đều giỏi về xử lý chất liệu, có ý thức về khối và có quan niệm riêng về không gian cụ thể, đặc biệt là quan niệm tiếp cận, giao lưu với người xem của mỗi tác phẩm. Họ chơi đùa một cách có ý thức xã hội và thẩm mỹ. Họ đã quen với ngôn ngữ tượng vườn, ngoài trời. Trong khi khoảng 50 tác giả Việt Nam, quay vòng khá gấp ở các trại trong nước, có người nhờ người khác làm phác thảo hoặc "trông coi hộ".

Trùng lặp về đề tài, yếu về xử lý biểu chất (vì là "điêu khắc chỉ tay" là chính) nghèo về kết cấu và lộ liễu về ý tứ. Tự do hoàn toàn nhưng tự nhiên tượng của ta cứ giống nhau: tắm gội, mẹ bồng con, thuyền và cá, khỏa thân kiểu "hòn non bộ". Tác phẩm vừa có phần quá "nghiêm trọng" vừa hời hợt kiểu "cô gái Huế, cô gái An Giang hay cô gái Sài Gòn...".

Tuy nhiên cũng nên  lạc quan vì dần dần ta cũng làm chủ được ngôn ngữ tượng vườn và đã có nhiều tác phẩm thú vị. Nếu các trại có không khí học thuật hơn, tác giả trao đổi với nhau cởi mở hơn, thì môn này sẽ phát triển nhanh chóng. Thí dụ như về  tượng kim loại ở vườn Phú Xuân của Nguyễn Hiền, tượng - sắp đặt của Ðặng Thị Khuê ở An Giang, tượng chữ số của Ðinh Công Ðạt ở TP Hồ Chí Minh, chân dung của Ðinh Rú, Phạm Mười,... có nhiều ý kiến trái chiều nhau về ngôn ngữ, cấu trúc hay sự tương thích với nơi đặt để có thể gợi những tranh luận bổ ích. Ðiểm cuối cùng là tính thân thiện, gần gũi, tương tác của tác phẩm tượng vườn với người dân.

Tượng vườn, tượng đô thị chắc chắn, có một tiềm năng lớn ở Việt Nam. Tuy về điêu khắc vườn, ta không có truyền thống nhưng vườn và lối sống hòa hợp với thiên nhiên là một truyền thống bền chắc đáng quý và hợp với xu hướng thời đại, như là một sự cân bằng cần có trong giai đoạn đô thị hóa, hiện đại hóa hiện nay và những năm tới.

Theo ND

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác