Bình Định: Kỷ niệm 55 năm Đoàn tuồng Liên khu V - Nhà hát tuồng Đào Tấn

Đoàn tuồng Liên khu (ĐTLK) V được thành lập vào năm 1952 tại Bình Định, là tiền thâncủa Nhà hát tuồng Đào Tấn (NHTĐT) ngày nay. Trải qua 55 năm xây dựng vàphát triển,ĐTLK V - NHTĐT đã có những đóng góp tích cực trong 2 cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ, cũng như trong công cuộcxâydựng đất nước hôm nay.

Giáo sư Trần Văn Khê thăm các nghệ sĩ Nhà hát tuồng Đào Tấn trong chuyến lưu diễn tại Munich (Đức). (Ảnh: trangnhahoaihuong.com)Giáo sư Trần Văn Khê thăm các nghệ sĩ Nhà hát tuồng Đào Tấn trong chuyến lưu diễn tại Munich (Đức). (Ảnh: trangnhahoaihuong.com)

Ở chiến khu

Sau khi có chỉ thị của T.Ư Đảng về vấn đề phục hồi vốn cổ dân tộc, tháng 4.1952 Thường vụ Khu ủy khu V quyết định thành lập ĐTLK V làm đơn vị điển hình nhằm phục hồi, phát triển ngành nghệ thuật (NT) Tuồng truyền thống của dân tộc. Hai tháng sau, 9 thành viên ban đầu của Đoàn đã ra mắt đêm diễn đầu tiên tại Hà Đông (một địa phương thuộc huyện Hoài Ân) với vở tuồng Tam nữ đồ vương, được quần chúng khán giả hoan hô nhiệt liệt.

Từ kết quả này, Đoàn càng phấn khởi lên đường phục vụ, mở rộng địa bàn hoạt động. Quá trình đi biểu diễn của Đoàn là quá trình thức tỉnh phong trào Tuồng ở miền Trung và cũng là quá trình tập hợp thêm lực lượng cho Đoàn. Sau đó, các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi đều thành lập đoàn Tuồng, tỉnh Quảng Nam chiến tranh ác liệt hơn nhưng cũng có một tổ Tuồng trong Đoàn văn công kháng chiến của tỉnh.

Nhiều nghệ sĩ (NS) danh tiếng của các tỉnh khu V như: Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu, Văn Phước Khôi, Văn Phát, Đoàn Thìn, Nguyễn Tường Nhẫn, Phạm Sử, Nguyễn Tri, Nguyễn Vĩnh Phô, Nguyễn Vĩnh Huế, Tống Phước Phổ, Lệ Thi, Phạm Chương, Trương Thị Minh Đức, Phan Thanh Giảng, Đinh Quả, Phạm Hoàng Chinh, Nguyễn Siểng, Võ Sĩ Thừa, Văn Bá Anh, Đỗ Ngọc Liên, Đinh Thị Bích Hải, Phạm Hữu Thành, Nguyễn Kim Kích … kẻ trước người sau lần lượt quy tụ về Đoàn, chấp nhận gian khổ, vượt qua những quan niệm phong kiến còn rơi rớt lại trong một số người về nghề “xướng ca” để cùng chung tay xây dựng Đoàn với mong muốn được làm cái nghề mình yêu quý và góp phần cùng nhân dân cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp.

Để tiết mục được phong phú về nội dung, hình thức và nâng cao tác dụng giáo dục tư tưởng của vở diễn, sau Tam nữ đồ vương Đoàn dựng tiếp vở Trưng Vương khởi nghĩa, phục hồituồng Sơn hậu, Trảm Trịnh Ân. Không chỉ gián tiếp cổ vũ lòng yêu nước, căm thù giặc, ghét gian tà của dân tộc ta qua các vở tuồng cổ, tuồng lịch sử, Đoàn còn dựng tuồng mới phản ánh kịp thời, trực diện về chính sách bình dân học vụ, đảm phụ quốc phòng, dân công tiếp vận qua vở Gương liệt nữ của tác giả Tống Phước Phổ, tố cáo tội ác của kẻ thù qua vở Đường về Vụ Quang của Hoàng Châu Ký và đặc biệt là vở Chị Ngộ của tác giả Nguyễn Lai đã gây tiếng vang ở khu V hồi ấy, kích động mạnh mẽ lòng căm thù quân giặc của quân và dân ta.(vở tuồng Chị Ngộ được giải thưởng Phạm Văn Đồng - phần thưởng cao nhất về văn hóa - văn nghệ ở Liên khu V lúc bấy giờ)…

Trên đất Bắc

Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Đoàn nhận lệnh củng cố lực lượng chuẩn bị lên đường nhận nhiệm vụ mới. Tháng 10 năm ấy,  Đoàn rời bến cảng Quy Nhơn để tập kết ra Bắc. Được đóng quân tại thủ đô Hà Nội, trực thuộc Bộ Văn hóa, Đoàn càng có điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp kế thừa và phát triển bộ môn NT Tuồng truyền thống. Đoàn tuyển thêm 18 học viên từ các Trường học sinh miền Nam và các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình về đào tạo tại chức; mời một số diễn viên, nhạc công đã từng làm nghề Tuồng ở miền Nam đang công tác tại các đơn vị bộ đội, nông trường, công trường về tham gia; cùng với một số diễn viên Trường Ca kịch dân tộc Việt Nam khóa đầu tiên (1959 - 1963, tại Hà Nội) bổ sung ve, đã nâng con số của Đoàn từ 22 người (đầu năm 1960) lên gần 100 người vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Tiếp sau đó 4 khóa đào tạo diễn viên - nhạc công được tiến hành.

Ban Nghiên cứu Tuồng cũng được ra đời để phục vụ công tác bảo tồn và phát triển NT. Hàng chục vở tuồng cổ được khai thác, dịch thuật, chỉnh lý với nội dung mang hơi thở thời đại. Hàng chục vở về đề tài lịch sử được xây dựng nhằm ca ngợi các anh hùng, nghĩa sĩ của đất nước. Nhiều vở Tuồng dân gian được phục hồi hoặc dàn dựng mới với những tích truyện đi vào lòng người. Nhiều vở tuồng hiện đại được dàn dựng với việc cách tân NT khá mạnh dạn đã đáp ứng phục vụ công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Nam, xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN ở miền Bắc.

Gần 21 năm hoạt động NT trên miền Bắc, Đoàn tuồng Liên khu V đã đặt chân tới hầu khắp mọi nơi: từ địa đầu Móng Cái đến tận giới tuyến Vĩnh Linh; từ các tỉnh miền biển Hải Phòng, Quảng Ninh đến các tỉnh miền Tây Bắc … Thời kỳ Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc, Đoàn sơ tán về các tỉnh Hưng Yên, Sơn Tây, Vĩnh Phúc đã cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân và vẫn duy trì công tác xây dựng và biểu diễn phục vụ.

Một tốp gồm 17 diễn viên - nhạc công của Đoàn đã khoác ba-lô trên vai, đi bộ đến tận các mâm pháo, các hạt giao thông phục vụ bộ đội phòng không, thanh niên xung phong ở tuyến lửa khu IV ròng rã 3 tháng trời (năm 1967) dưới làn bom đạn của máy bay địch, với ý chí “Tiếng hát át tiếng bom”.

Cuối năm 1966, một tốp 9 NS của Đoàn theo tiếng gọi của quê hương, vượt Trường Sơn vào  phục vụ chiến trường miền Nam và đứng chân trên quê hương đã sinh ra mình. Cũng trong năm này, khi Đoàn đang trên đường công tác thì bị địch vây bắt tại Gò Loi (Hoài Ân). Suốt  7 năm trong nhà lao Mỹ – Ngụy, các NS bị địch bắt vẫn kiên trung, vẫn tìm cách diễn tuồng Trần Bình Trọng với câu hát được tù nhân tâm đắc “Thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất giặc”. Tiếp đó, một tốp khác lại lên đường vào thay thế, 4 NS đã anh dũng ngã xuống trên chiến trường trong khi làm nhiệm vụ.

Về lại quê hương, phát triển Nghệ thuật

Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Những thành quả xây dựng và phát triển NT từ miền Bắc được ĐTLK V “Trống rung, cờ mở” tiến về Nam kịp phục vụ quân và dân ta mừng đại thắng. Hơn 3 tháng, Đoàn đã biểu diễn qua các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa được người xem đón nhận bằng sự trân trọng, yêu quý và thán phục.

Tháng 06.1976, Bộ Văn hóa cùng Ty Thông tin - Văn hóa Nghĩa Bình ký văn bản bàn giao ĐTLK V về đứng chân tại Bình Định - nơi sản sinh ra Đoàn, và cũng là mảnh đất được mệnh danh “Chiếc nôi của NT Tuồng”. Một số NS của Đoàn về với  Đoàn tuồng Quảng Nam - Đà Nẵng, số khác vì hoàn cảnh riêng đã ở lại sáp nhập với Đoàn tuồng T.Ư. Hơn một nửa NS, cán bộ chủ chốt trở về, mang sứ mệnh thừa kế ĐTLKV.

Tại Bình Định, Đoàn đã kết hợp với đoàn tuồng từ chiến khu xuống, đội tuồng đồng ấu do nghệ nhân Tư Cá đào tạo tại chỗ và lớp trung cấp Tuồng được đào tạo ở miền Bắc vào thực tập, thành Đoàn tuồng Nghĩa Bình. Năm 1978, Đoàn tuồng Nghĩa Bình được nâng cấp thành Nhà hát tuồng (NHT) Nghĩa Bình để mở rộng tầm hoạt động NT.

NHT Nghĩa Bình trong những năm 80 của thế kỷ trước có đến ba đoàn: Đoàn I - đoàn chủ lực - gồm các NS của ĐTLKV trở về. Đoàn II là các diễn viên trẻ tuổi, hạt nhân từ phong trào Tuồng không chuyên trong tỉnh. Đoàn III gồm các nghệ nhân nổi tiếng của Bình Định: Hoàng Chinh, Tư Cá, Long Trọng, Ngọc Cầm, Cửu Vị, Hai Liêu, Lệ Siềng, Khánh Dư, Hề Công… Sự tập hợp này không chỉ là số lượng mà còn tăng cường chất lượng NT qua tài năng phong phú của NS và còn đáp ứng rộng khắp nhu cầu thưởng thức của vùng đất có rất đông khán giả mến mộ NT Tuồng.

Đi cùng việc hợp lực là sự thống nhất khâu chọn lựa tuồng tích, phân công vai diễn, phối hợp tập luyện, thống nhất quan niệm về khai thác vốn cổ, kể cả ý thức cách tân NT để phù hợp với hơi thở thời đại, nâng hiệu quả giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ cho người xem. Theo đó, nhiều vở tuồng cổ, trích đoạn tuồng mẫu được phục dựng. Tuồng lịch sử ca ngợi những chiến công vẻ vang của đất nước, của các anh hùng dân tộc chống ngoại xâm: Sao Khuê trời Việt, Lý Thường Kiệt, Trưng Vương khởi nghĩa, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản ra quân … cùng nhiều vở về phong trào Khởi nghĩa Tây Sơn, về người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, như: Tây Sơn tụ nghĩa, Quang Trung đại phá quân Thanh, Mặt trời đêm thế kỷ, Bùi Thị Xuân hồi kết cuộc, Trời Nam…

Mảng đề tài hiện đại tuy chưa quen thuộc lắm với khán giả miền Nam nhưng vẫn được duy trì để thực hiện chủ trương kế thừa và phát triển NT, trực tiếp phản ánh công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã có tác dụng trong nhiệm vụ phục vụ chính trị, qua các vở diễn: Gia đình má Bảy, Ba Tơ khởi nghĩa, Mối tình qua Tết Li-Boong, Sáng mãi niềm tin (hình tượng Bác Hồ trên SK Tuồng) … 

Hàng loạt vở tuồng tiểu thuyết được phục hồi, như các vở: Giai nhân trong thời loạn, Nỗi oan tình, Giông tố bụi trần, Chuyện tình Âu Lạc, Tình và tội, Gương trong mắt sáng, Mạnh Lệ Quân, Thầy Khóa làng tôi … Kịch nước ngoài cũng được chuyển tải: Nàng SơKunTơLa (Ẩn Độ), Công chúa SaMi (Lào), Chuyện tình nàng SiTa (Campuchia), Quyền uy và tội ác (vùng Trung Đông)…

Những vở tuồng xây dựng ở miền Bắc được đánh giá cao như: Thạch Sanh, Trần Bình Trọng, Trưng nữ vương, Trần Quốc Toản, Ngọc lửa Hồng Sơn, Trảm Trịnh Ân, Bao Công tra án Quách Hòe, Giang tả cầu hôn, Nghêu Sò ốc Hến, Nắng soi dòng suối PăngPơi … đã được lớp nghệ sĩ mới tái hiện thành công.

Công tác khai thác, phục hồi, xây dựng vở diễn nêu trên đã làm cho chương trình kịch mục của NHT Nghĩa Bình có đến con số trăm, đa dạng về đề tài và thể tài, phong phú về màu sắc NT, đề cập được nhiều vấn đề của cuộc sống, thích hợp với nhiều đối tượng khán giả.

Đồng thời với những hoạt động và thành quả NT của NHT Nghĩa Bình, công tác nghiên cứu về Đào Tấn - nhà thơ, nghệ sĩ, tác giả Tuồng xuất sắc cũng được Nhà hát tiến hành đạt hiệu quả cao. Bộ Văn hóa cùng UBND tỉnh Nghĩa Bình đã tổ chức 3 Hội nghị khoa học về Đào Tấn và đi đến kết luận: Đào Tấn là một nhà thơ, nghệ sĩ Tuồng xuất sắc, danh nhân Văn hóa của đất nước và được tôn vinh làm Hậu Tổ NT Tuồng. Bộ Văn hóa và UBND tỉnh Nghĩa Bình đã quyết định đổi tên NHT Nghĩa Bình thành (năm 1988).

Nhà hát mang tên Đào Tấn

Được mang tên Đào Tấn không chỉ là niềm tự hào bởi danh tiếng của ông, không chỉ là sự ngưỡng mộ, tôn vinh của hậu thế và biết ơn người đã có công nâng NT Tuồng từ hình thái sân khấu dân gian lên hình thức sân khấu cung đình và bác học, mà điều quan trọng hơn là để có thái độ và việc làm đúng mực trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị NT quý báu của cụ Đào để lại, làm cho cây đại thụ Tuồng ngày càng đâm cành - trổ hoa - kết trái tốt tươi trên thân gốc của chính nó.

Từ ý thức đó, NHTĐT càng trân trọng, nghiêm túc khai thác phục hồi và trình diễn các vở tuồng tiêu biểu, mẫu mực do Đào Tấn sáng tác: Khuê các anh hùng, Đào Phi Phụng, Sơn hậu, Cổ thành, Trầm hương các, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan …

Một phòng truyền thống trưng bày khá đầy đủ hình ảnh, hiện vật từ ĐTLK V đến NHTĐT, trong đó một gian trang trọng dành trưng bày tư liệu về thân thế và sự nghiệp NT của Đào Tấn với hàng chục kịch bản tuồng có giá trị tư tưởng sâu sắc; thơ từ, lý luận sân khấu, những câu chuyện về tấm lòng yêu nước thương dân … của ông được lưu giữ. Phòng nghiên cứu NT của Nhà hát đã mời các nhà nghiên cứu, các NS lâu năm trong nghề thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học về Đào Tấn, về âm nhạc Tuồng, làn điệu hát Tuồng và sẽ tiến hành các công trình về NT biểu diễn, kỹ thuật hát Tuồng cùng một số khâu hợp thành vở diễn…

Công tác tuyên truyền, giới thiệu NT trên sóng phát thanh truyền hình, qua báo chí; minh họa NT ở các câu lạc bộ, trường học; dạy hát trên truyền hình; tham gia thực hiện chương trình Sân khấu học đường do Cục NTBD và Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn và phát huy NT dân tộc tổ chức - đều được tăng cường thực hiện có hiệu quả.

Địa bàn hoạt động biểu diễn của Nhà hát được mở rộng đến vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, phục vụ các tập tục văn hóa cúng tế dân gian, các điểm du lịch, ra nhiều tỉnh bạn trong cả nước và còn đến với nhiều nước trên thế giới, được đông đảo người xem tiếp nhận, và đánh giá cao. Một chương trình ca - múa - nhạc truyền thống gồm: Hòa tấu nhạc dân ca ba miền, độc tấu trống trận Quang Trung, múa hoa đăng, múa cờ, múa quạt, múa lân … cũng được hình thành để phục vụ các lễ kỷ niệm, lễ mừng công, hội nghị …

Về công tác đào tạo đội ngũ NS kế tục, tiếp sau 3 khóa đào tạo trước đó, NHTĐT đã phối hợp với Trường trung học Văn hóa - Nghệ thuật tỉnh Bình Định đào tạo thêm 3 khóa diễn viên - nhạc công Tuồng bổ sung lực lượng cho Nhà hát và về làm nòng cốt phong trào Tuồng ở các địa phương. Nhà hát đã cử cán bộ xuống cơ sở hướng dẫn NT, hỗ trợ một số trang thiết bị cho hơn 10 đội Tuồng nghiệp dư trong tỉnh. Phong trào Tuồng tỉnh Bình Định được đánh giá nổi trội so với cả nước, được chứng minh qua nhiều giải thưởng cao qua các kỳ hội thi, hội diễn Tuồng không chuyên của tỉnh và toàn quốc.

Nhằm nâng cao trình độ năng lực NT cho cán bộ, NS của Nhà hát để đảm đương công việc hiện tại và tương lai, Nhà hát đã cử nhiều người đi học các lớp đại học Biên kịch, Đạo diễn, Âm nhạc, Hội họa, Quản lý Văn hóa, VHQC, Ngữ văn, Anh văn; các lớp trung cấp Chính trị, Lưu trữ, Văn phòng, Tổ chức - Hành chính; thanh toán chương trình Văn hóa phổ thông …

ĐTLK V - NHTĐT qua mỗi chặng đường đã đối mặt với những khó khăn vất vả trong quá trình xây dựng và phát triển, nếm trải gian lao cùng đất nước qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng những thử thách trong thời mở cửa hội nhập quốc tế… Điều đọng lại là những thành quả NT đáng mừng, những lời ngợi khen và những phần thưởng cao quý. Ghi nhận công lao đóng góp cùng đất nước, cho NT Tuồng, tập thể Nhà hát đã được tặng thưởng nhiều Huân chương, huy chương cao quý cùng nhiều Bằng khen cho tập thể, cá nhân…

Đến nay, Nhà hát có 11 NS được phong tặng danh hiệu NSND, 35 NS  được phong danh hiệu NSƯT Những vở diễn tham dự Hội diễn SKCN toàn quốc đạt giải cao: Huy chương Vàng cho các vở: Lam Sơn khởi nghĩa (1958), Ngọn lửa Hồng Sơn (1960), Sao Khuê trời Việt (1985), Sáng mãi niềm tin (1990), Bùi Thị Xuân hồi kết cuộc (1995), Trời Nam (1999); Huy chương Bạc cho các vở: Trần Bình Trọng (1962), Những người con (1965). Nhiều vở diễn khác được giải tiết mục hay hàng năm của Hội NSSK VN, cùng với vở diễn là HCV, HCB, Bằng khen cho diễn viên , đạo diễn, nhạc sĩ, nhạc công…

Chào mừng kỷ niệm sinh nhật tuổi 55 của ĐTLKV - NHTĐT, lớp người đang kế tục tại NHTĐT vẫn luôn ý thức rằng: Những gì có được trong 55 năm qua là đáng mừng, đáng tự hào và là nguồn khích lệ chứ không hề được thỏa mãn rồi dừng chân. Trên bước đường tiếp theo sẽ còn nhiều việc phải làm, có nhiều điều cần nâng cao để xứng đáng với một Nhà hát có tầm cỡ Quốc gia, đáp lại sự quan tâm chỉ đạo và chăm sóc của lãnh đạo các cấp, sự mến mộ tâm huyết của khán giả, xứng đáng với tên gọi NHTĐT ngay trên quê hương ông, góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và chấn hưng bộ môn NT tuồng truyền thống – tinh hoa NT của nước ta.

(Theo BBĐ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác