Cẩn trọng trong cải biên, cách tân tuồng truyền thống

Liên hoan nghệ thuật tuồng truyền thống năm 2011 vừa kết thúc đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đáng bàn trong kế thừa và phát triển nghệ thuật tuồng truyền thống.

Cẩn trọng trong cải biên, cách tân tuồng truyền thống - ảnh 1

Về mặt lý thuyết, lâu nay đã có một số người nhận thức sai lệch, vì thế mà cải biên, cải tiến không thành công, chưa nói là đã phá vỡ truyền thống. Ðiều đó có thể thấy được qua một số vở diễn truyền thống nổi tiếng, nhưng gây hiệu ứng không cao, chưa kể có những chi tiết phản cảm tại liên hoan lần này và cả những lần liên hoan trước đây.

Ðành rằng truyền thống không phải là bất biến, nhưng truyền thống là sự tiếp nối, kế thừa, cô đúc, là sự chắt lọc và định hình từ hàng chục, hàng trăm thế hệ  nghệ sĩ đã đồng sáng tạo ra những vai diễn mẫu mực, hết sức có giá trị như: Kim Lân, Linh Tá, Phạm Ðịnh Công... cùng với những miếng diễn hết sức đặc sắc như: Kim Lân biệt mẹ, Kim Lân qua đèo, Ôn Ðình chém Tá, Phạm Ðịnh Công đề cờ... trong vở tuồng Sơn Hậu... hoặc: Lão Tạ sai Cơ, Phương Cơ qua ải, Tạ Ngọc Lân lăn lửa... (Tuồng Tam nữ đồ vương). Nếu nói tới truyền thống tức là đề cập những giá trị bất biến, ngay cả tên vở diễn cũng được các thế hệ nghệ sĩ tiền bối đặt ra, trong đó đều mang một nội hàm  khái quát, một nội dung sâu sắc, đồng thời còn mang một dấu ấn nghệ thuật xuyên suốt thời gian như Tam nữ đồ vương, hoặc Ngọn lửa hồng sơn, Sơn Hậu, Trảm Trịnh Ân... Nhưng dường như các thế hệ nghệ sĩ ở cuối thế  kỷ 20 đầu thế  kỷ 21, đa số chưa được xem những vở tuồng thầy mẫu mực, những vai diễn đặc sắc, mà cứ nhiệt tình phục hồi, phục dựng, thậm chí cải biên những kiệt tác thì 'quả là dũng cảm', bởi vì đụng vào những vở truyền thống, những tác phẩm kinh điển như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Ðào Tam Xuân loạn trào... hoặc tuồng Ðào Tấn như : Hộ Sanh Ðàn, Diễn Võ Ðình, Trầm Hương Các... là đụng vào 'những hòn đá tảng', bởi đó là những di sản bất biến đã được coi là cổ điển, là bác học, là kiệt tác của dân tộc. Việc coi thường những di sản, những giá trị  nghệ thuật đã được khẳng định hàng trăm năm trước đã dẫn tới những hệ quả đáng tiếc qua các kỳ liên hoan tuồng truyền thống trước đây, cũng như liên hoan tuồng truyền thống toàn quốc ở Bình Ðịnh lần này, cho thấy hiện tượng cắt xén, lắp ghép vở cổ có phần tùy tiện, mà không biết rằng những vở tuồng cổ còn lưu lại tới hôm nay là kết quả  sáng tạo của nhiều học giả uyên thâm từ hàng trăm năm trước. Viết kịch bản tuồng là cực kỳ khó, vậy mà hiện nay vẫn có một số người tuy chưa 'biết cách soạn tuồng hát' vẫn cứ sáng tác và cải biên tuồng thì làm gì có thể có tuồng hay được.

Một điều cũng đáng quan tâm là, trong kho tàng tuồng truyền thống có hàng trăm vở, nhưng không hiểu sao  liên hoan  tuồng truyền thống lần nào cũng  chỉ thấy có: Sơn Hậu, Ngọn Lửa Hồng Sơn, Ðào Phi Phụng, Ðào Tam Xuân loạn trào (hoặc Trảm Trịnh Ân). Ðặc biệt, lần này còn xuất hiện thêm mấy vở thuộc thể loại tuồng dân gian, tuồng tiểu thuyết như Chung vô Diệm của nhà hát Khánh Hòa, Thất hiến quyến của Nhà hát tuồng trung ương, Lưu Kim Ðính giải giá thành Thọ Châu của Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Ðà Nẵng) trong đó, có vở được phục hồi một cách tam sao thất bản, lắp ráp có phần tùy tiện, nên khó  nhận diện được toàn vẹn một tác phẩm cổ xưa? Vì chạy theo thị hiếu tầm thường mà có người đã làm mất đi những giá trị nghệ thuật đặc sắc, độc nhất vô nhị là nghệ thuật tuồng. Nguyên tắc thủ pháp của tuồng là cách điệu, ước lệ và tượng trưng, lấy nghệ thuật biểu diễn cách điệu mà tạo ra không gian, thời gian và tạo ra vật thể. Tuồng truyền thống làm gì có múa cờ đông người, làm gì có chuyện viết chữ quốc ngữ lên lá cờ xưa, làm gì có những  dải lụa dài bọc đầu Trịnh Ân để mà diễn và làm gì có đặc tả hình tượng Trịnh Ân như một anh hùng bất tử? Xuất phát từ thi pháp nghệ thuật ước lệ, cách điệu và tượng trưng mà các nghệ nhân tiền bối đã sáng tạo ra những miếng diễn điển hình đặc sắc như: Kim Lân biệt mẹ, Kim Lân qua đèo, Ôn Ðình chém Tá, Phan Ðịnh Công đề cờ, Cao Hoài Ðức rọi đèn, Cao Hoài Ðức bê đầu, Ðào Tam Xuân đề cờ... (tuồng Trảm Trịnh Ân) hoặc Châu Xương chắp râu (tuồng Ðào Phi Phụng)... Ðừng tưởng nghệ thuật tả thật là đẹp hơn, hay hơn nghệ thuật ước lệ, cách điệu. Cách điệu, ước lệ là một thủ pháp nghệ thuật vừa có tính cổ điển, đồng thời cũng vừa có nội dung hiện đại. Nghệ thuật cách điệu, ước lệ của tuồng đã mang giá trị thông tin rất cao thì cần gì phải thay thế bằng tả thực như kịch nói và điện ảnh. Trên sân khấu hội diễn tuồng lần này vẫn thấy những bục, bệ cồng kềnh, những phông cảnh nặng nề tốn kém, kéo ra kéo vào liên tục nhưng hiệu ứng lại không cao bằng sân khấu ước lệ, cách điệu truyền thống.

Trong sân khấu tuồng truyền thống, chủ yếu là múa cá thể, nhưng ở liên hoan tuồng lần này, lại có nhiều điệu múa tập thể đông người như múa cờ, múa lửa, múa ra binh, múa chúc rượu... tuy có 'xôm trò' nhưng vượt quá giới hạn của nghệ thuật tả ý, tả thần, bản chất của nghệ thuật tuồng truyền thống. Ở liên hoan tuồng truyền thống lần này có đơn vị thì dùng trang trí mềm nhiều cảnh, nhưng cũng có đơn vị chỉ treo một tấm decor biểu trưng tuồng xuyên suốt từ đầu đến cuối vở. Nhìn chung chưa thấy cái đẹp về mỹ thuật sân khấu tuồng. Có lẽ các nhà hát (đoàn) quan tâm tới nghệ thuật biểu diễn của những diễn viên  ứng thí mà xem nhẹ khâu trang trí, phục trang và hóa trang. Nghệ thuật hóa trang ở một số đoàn cũng có phần tùy tiện, không theo mô hình truyền thống. Việc tiếp thu, kế thừa truyền thống phải đồng bộ từ vở diễn  đến vai diễn, từ miếng diễn, hát, múa cho đến hóa trang, phục trang và âm nhạc. Diễn tuồng mà âm nhạc không phụ họa tốt cho diễn xuất, trống chiến, trống chầu, kèn, nhị... không  phát huy đúng mức  thì không khí buổi diễn  sẽ không cao, điều đó  rất dễ thấy trong vở  diễn Ðào Tam Xuân loạn trào của Nhà hát tuồng Ðào Tấn, mặc dù đa số diễn viên trong vở này đều hát hay, nhưng lại thiếu trống chầu, một nhạc cụ rất phổ biến ở sân khấu tuồng Bình Ðịnh. Trong tuồng nếu chỉ quan tâm tới diễn  mà xem nhẹ hát như vở Sơn Hậu của Nhà hát tuồng Trung ương thì trống chiến, trống chầu cũng khó mà phát huy. Cũng có ý kiến biện minh rằng, tuồng Sơn Hậu chỉ có nói lối mà ít có làn điệu để hát! Xin thưa rằng, nói lối cũng là một thể hát, vì vậy mà nghệ sĩ bậc thầy Nguyễn Nho Túy nói rằng: 'Trong hát tuồng khó nhất là nói lối' vì nếu không vận dụng cách hát trong nói lối thì tuồng Sơn Hậu sẽ trở thành 'tuồng kịch', tức là nói thường là chính. Từ xưa, người ta đã rất quan tâm tới hát trong diễn tuồng. Ngày nay, cũng có những diễn viên ít chú ý tới hát và nhầm lẫn nói lối là nói thường, cho nên để cho ra tuồng thì cứ cất cao giọng nên trở thành tuồng hét, tuồng quát, đó cũng là một trong những nguyên nhân  làm cho tuồng thưa vắng khán giả.

Việc cải biên, phục dựng tuồng truyền thống là cực kỳ khó khăn, đòi hỏi người thực hiện phải có một trình độ học vấn cao để hiểu về mặt văn học cổ điển, đồng thời phải biết nghề, giỏi nghề, nếu không, sẽ dẫn tới hệ quả làm giảm sút giá trị của những tác phẩm kinh điển. Qua sân khấu liên hoan tuồng lần này, cho thấy có nhiều vở tuồng kinh điển  bị phá vỡ cấu trúc, chắp nối tùy tiện, như vậy là sai với tinh thần bảo tồn và phát huy nghệ thuật  truyền thống, mặc dù thiện chí của một số đạo diễn  là muốn tạo đất cho cho diễn viên của mình dụng võ, nhưng về nguyên tắc bảo tồn vốn cổ thì đó là phá vỡ truyền thống, làm mai một di sản, vì nếu ai cũng cải biên, phục dựng theo  kiểu đó  thì không bao lâu nữa sẽ không còn những giá trị nguyên thủy, những viên ngọc quý trong kho tàng nghệ thuật tuồng truyền thống  của cha ông.

 

GS HOÀNG CHƯƠNG (Nguồn ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác