Chấn hưng sân khấu truyền thống

Các đoàn nghệ thuật sân khấu truyền thống trực thuộc trung ương và địa phương đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ tồn tại hay không tồn tại. Vấn đề đặt ra lúc này là làm thế nào để chấn hưng sân khấu truyền thống?

Chấn hưng sân khấu truyền thống - ảnh 1

Sân khấu nước ta hiện bao gồm ba bộ phận chính. Thứ nhất là các hình thức kịch hát truyền thống như tuồng (hát bội) và chèo... Ðây là những bộ môn hình thành và phát triển lâu đời trong tiến trình lịch sử, chứa đựng những nhân tố tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, kết tinh những giá trị nghệ thuật đặc sắc được gìn giữ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thứ hai là những hình thức sân khấu du nhập từ phương Tây quãng đầu thế kỷ 20 như kịch nói; hoặc mới chỉ phổ biến mấy chục năm qua như opera, ballet...

Ngoài  ra  là  nhóm những bộ môn sân khấu mang tính quá độ như cải lương, kịch hát Huế, kịch hát bài chòi Liên khu V, kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh, kịch hát mới...

Những hình thức này cũng chỉ mới định hình từ đầu thế kỷ 20 hoặc hiện diện gần đây nhưng nhìn chung đều mang tính chất gạch nối giữa sân khấu truyền thống với các hình thức sân khấu du nhập từ văn hóa phương Tây.Nhìn chung, loại hình sân khấu nào cũng đang lâm vào tình trạng khủng hoảng khán giả, nhưng mức độ trầm trọng nhất lại rơi vào chính các đơn vị nghệ thuật tuồng hoặc chèo.

Hiện tượng lâu lắm mới thấy các tích chèo hoặc tuồng xuất hiện tại các rạp diễn đã trở nên quá phổ biến, đến mức một số ít khán giả còn nặng lòng với sân khấu truyền thống có nhu cầu  tiếp xúc với nó chẳng biết kiếm đâu ra địa chỉ cần thiết.

Ði sâu hơn, dễ nhận ra bản thân từng đơn vị nghệ thuật truyền thống này, dù là nhà hát tầm cỡ quốc gia, hay các đoàn nghệ thuật từng có thời vang bóng do địa phương quản lý, cũng đang hết sức lúng túng trong việc xác định phương hướng nghệ thuật, tìm kiếm cung cách hoạt động sát hợp và thích ứng với những biến động gấp gáp của đời sống xã hội hiện đại. Tất cả đều gặp một khó khăn chung: bảo tồn di sản quý giá của kịch chủng truyền thống và quá trình phát triển, cách tân, đổi mới các hình thức kịch hát lâu đời sao cho phù hợp với thời đại. Nhưng hiệu quả thực tế cho thấy không có phần việc nào đạt được mục tiêu đề ra. Bởi cả hai công đoạn này dường như được tiến hành riêng rẽ biệt lập, nhất là thiếu một sự đầu tư sức người sức của một cách chu đáo, nghiêm túc, kinh qua một quá trình tìm hiểu công phu, thấu đáo với từng bước đi thận trọng, có đúc rút kinh nghiệm thành công và thất bại để hoàn thiện dần, nên bao giờ cũng dừng lại ở tình trạng dang dở, chắp vá, nửa vời, được mặt nọ hỏng mặt kia.

Thời gian qua, khâu bảo tồn vốn cổ sân khấu truyền thống có thu được một số kết quả nhất định, đặc biệt thời kỳ cuối những năm 50 đến 60 của thế kỷ 20 đã mở nhiều đợt khai thác lớn, quy tụ đông đảo nghệ nhân tuồng, chèo cả nước tiến hành sưu tầm, kiểm kê trên các phương diện kịch bản, biểu diễn, âm nhạc, tiến tới phục hồi hàng loạt trích đoạn, vở diễn tiêu biểu của kho tàng truyền thống đang có nguy cơ mai một, rũ đi bao lớp bụi thời gian để làm sáng lên vẻ đẹp kỳ diệu, sâu xa của những viên ngọc nghệ thuật sân khấu như các vở chèo mẫu mực: Quan Âm Thị Kính, Xúy Vân, Lưu Bình - Dương Lễ, Trương Viên, Chu Mãi Thần, Trịnh Nguyên... hoặc các vở tuồng kinh điển Sơn Hậu, Tam nữ đề vương, Ðào Tam Xuân, Ðào Phi Phụng, Triệu Ðình Long, Hộ sanh đàn, Diễn võ đình, Võ hùng vương, cho đến các vở tuồng đồ nổi tiếng như Lý Ân- Lang Châu, Nghêu sò ốc hến, Trương Ðồ Nhục, v.v.

Nhiều bài bản, làn điệu, nhiều trình thức động tác vũ đạo và một số vai diễn tiêu biểu của tuồng và chèo được hệ thống lại, giúp cho quá trình nhận diện di sản sân khấu truyền thống cụ thể và sâu sắc hơn, làm điểm tựa cho việc phục dựng lại những trích đoạn và vở diễn đặc sắc khác cũng như làm cơ sở tri thức cho việc truyền thụ tay nghề cho thế hệ sinh sau. Lần lượt hai cuộc liên hoan mang tính chuyên đề đã được tổ chức như liên hoan sân khấu chèo truyền thống tại Quảng Ninh (2001) và liên hoan sân khấu tuồng truyền thống Bình Ðịnh (2008) nhằm kiểm lại vốn liếng về truyền thống của các đơn vị nghệ thuật chèo, tuồng trên cả nước.

Song hành với nó là hoạt động nghiên cứu lý luận và công tác đào tạo nghệ sĩ dành riêng cho hai loại hình kịch hát này cũng được thúc đẩy với sự công bố một số công trình nghiên cứu của các tác giả Hùng Châu Lý, Mịch Quang, Lê Ngọc Cần, Phan Ngọc... (tuồng); Trần Bảng, Hà Văn Cầu, Hoàng Kiều, Trần Việt Ngữ... (chèo) góp phần đưa nhận thức về sân khấu truyền thống lên một tầm mức mới.

Có điều, tất cả những công việc trên gần như tiến hành một cách biệt lập, nếu không nói là riêng rẽ, đơn độc. Khoảng cách giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn sáng tác và biểu diễn cũng ngày một xa. Khâu đào tạo do áp lực của kinh tế thị trường có gắn với thực tế hơn nhưng cũng đang đứng trước nhiều thử thách, khó thu hút được nguồn học viên có thanh sắc, có năng khiếu và niềm say mê với sân khấu truyền thống như trước đây, vì thế gương mặt nghệ sĩ có triển vọng, đủ khả năng tiếp cận tinh hoa, vốn nghề truyền thống lại thưa vắng dần xét về số lượng cũng như tầm vóc bản lĩnh làm chủ truyền thống ngày càng thấp hơn so với thế hệ cha anh là điều dễ thấy. 

Ðáng chú ý là trong khi quá trình trở về, tiếp cận tiến tới làm chủ, sân khấu truyền thống còn đang dường như mới ở bước đi ban đầu, đầy dang dở và thiếu hụt, thì lại nảy sinh ảo tưởng hoặc ngộ nhận rằng chúng ta đã nắm vững tương đối di sản sân khấu truyền thống, đến lúc có thể chuyển sang thử nghiệm xây dựng những vở diễn mới hoàn toàn theo hai dòng khai thác đề tài lịch sử, có tích dân gian và những nét tương đồng với tích, chuyện quen thuộc của tuồng và chèo, hoặc táo bạo hơn là dùng tuồng, chèo có cải biến để thể hiện cuộc sống và con người đương đại.

Có một thời gian dài, do cần có ngay những tiết mục tuồng, chèo đi thẳng vào đề tài hiện đại nhằm phục vụ kịp thời nhu cầu xã hội mà các đơn vị nghệ thuật truyền thống hăm hở và vội vã bắt tay vào dàn dựng hàng loạt vở diễn mới, nhưng rất nhanh sau đó những tác phẩm này chỉ có thể xếp vào dạng kịch mục lưu kho, do biểu diễn không có ai xem và chính bản thân nghệ sĩ cũng chẳng hào hứng gì khi thể hiện nó trước khán giả.

Các đơn vị nghệ thuật truyền thống hiện đều đang đi hai chân: nửa truyền thống, nửa hiện đại, bên cạnh việc phục hồi lại những tiết mục truyền thống cũng không nên quên nhiệm vụ có những vở diễn thể hiện cuộc sống và những vấn đề bức xúc trước mắt. Rút cục, như đã nói, cả hai nhiệm vụ nặng nề và cần thiết đặt ra trước các đơn vị nghệ thuật truyền thống, hầu như đều không đạt được hiện quả thực tế. Chúng ta chờ đợi trong kiên nhẫn những tâm huyết và nỗ lực của đội ngũ nghệ sĩ sân khấu truyền thống trong sự nghiệp chấn hưng sân khấu truyền thống nặng nề và lâu dài.

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác