Chèo Chải hê, bao giờ trở lại?

Cùng với làn điệu quan họ trữ tình, mượt mà, vùng đất Kinh Bắc còn có một "đặc sản" độc đáo - chèo Chải hê. Nhưng theo dòng chảy của thời gian, loại hình nghệ thuật này đang dần mai một. Rất may, đã có một số người yêu vốn cổ tìm về với ước mơ phục dựng lối hát xưa, mở ra hy vọng cho chèo Chải hê có cơ hội vang lên...

Ông Nguyễn Năng Địch, nghệ nhân duy nhất còn nhớ chèo Chải hê.Ông Nguyễn Năng Địch, nghệ nhân duy nhất còn nhớ chèo Chải hê.

Tìm về cội nguồn

Thời Tiền Lê có quan Trần Thanh ở làng Đình Cả cấp tiền cho 12 xã của tổng Nội Duệ (nay là Tiên Du - Bắc Ninh) xây dựng đình làng. Hầu hết các xã đều mua được gỗ to, đẹp, riêng làng Lũng Giang đến sau, hết gỗ nên phải ra tận cửa sông Tiêu Tương tìm mua. Trên đường kéo gỗ về làng, đến đoạn ngang qua Tam Sơn thì bị mắc cạn, phải nhờ vào sự giúp sức của trai tráng quanh vùng mới có thể vượt qua khúc sông này. Từ đó hai làng kết chạ. Sau khi khánh thành đình làng, hàng năm, để cảm ơn dân làng Tam Sơn, người dân Lũng Giang thường qua lại thăm hỏi, giao lưu; khi có hiếu hỉ thì hát những câu hát giao duyên. Chèo Chải hê (hò sông nước) cũng bắt nguồn từ đó.

Được xếp vào một trong những giai điệu của quan họ cổ Kinh Bắc, nhưng khác các làn điệu giao tình, chèo Chải hê được xếp vào dòng Quan họ hiếu (chỉ hát trong các đám hiếu). Chèo Chải hê được chia làm hai phần: Phần một, kể chuyện về sáu người con hiếu thảo, rút từ tích truyện Nhị thập tứ hiếu (tích truyện của Trung Quốc kể về 24 người con hiếu thảo). Phần hai nói tới câu chuyện xung quanh con thuyền. Khi hát, bốn người nhà cái ngồi phía trên, cùng vài người khác chơi trống mõ. Sáu người nhà con phía dưới, cởi trần, đóng khố, mỗi người cầm một roi (gậy) dài khoảng 1,2m, giữa sơn son, hai đầu sơn vàng, buộc chỉ ngũ sắc; khi diễn xướng, điệu múa quyện với lời ca, tiếng trống, mõ, tạo nên không gian văn hoá sinh động. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, phường chèo của các làng lại diễn chèo Chải hê tại hội Lim, nhưng diễn nhiều nhất là vào rằm tháng Bảy, mừng thọ, đám hiếu... tại đình, đền, chùa hay tư gia.

Chèo Chải hê, bao giờ trở lại? - ảnh 2

                       Trang viết tay còn lưu giữ về chèo Chải hê.

Thế nhưng, chèo Chải hê đã không tồn tại được để vang danh khắp mọi miền như Quan họ. Những năm 1950-1960, thanh niên hai làng (Lũng Giang và Tam Sơn) chỉ chuyên tâm vào việc làm ăn chứ ít quan tâm đến việc học hát xướng như các thế hệ trước. Do đó, sau này, càng có ít người biết về chèo Chải hê cũng như còn nhớ giai điệu da diết của điệu hát này. ông Nguyễn Năng Địch ở làng Lũng Giang (thị trấn Lim) khẳng định, buổi diễn cuối cùng ông được xem là vào hội Lim năm 1978, cho đến hôm nay, nó gần như bị lãng quên.

Cơ hội chấn hưng

“Vào năm 1967“,nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thu  (Cục Biểu diễn nghệ thuật -Bộ Văn hoá Thông tin) đã về hội Lim và có ghi băng lại những điệu hát của chèo Chải hê. Hiện nay, những đoạn băng này là nhân chứng để phục dựng chèo Chải hê” - ông Địch bắt đầu câu chuyện về thời gian ông và TS. Lê Văn Toàn bắt tay phục dựng.

ông nhớ cái ngày đầu tiên vào năm 2003, khi ông gặp lại PGS -TS.Lê Văn Toàn, Phó viện trưởng Viện âm nhạc Việt Nam, cũng là người con của vùng quê Kinh Bắc. Vừa bước chân vào nhà, ông Toàn đã nghe thấy những giai điệu của chèo Chải hê như tràn ngập không gian của người nghệ nhân: “Đi đâu từ tối đến giờ /Để cho tin đợi tin chờ tin mong...”. ông Toàn dường như không thể tin vào đôi tai mình, đứng sững lại vì đã quá lâu rồi mới được nghe lại chèo Chải hê mà tưởng chừng như không còn cơ hội. ông thốt lên: “Đây đúng là Chải hê rồi”. ông Toàn kể cho ông Địch nghe, thời trẻ, khi còn công tác ở đoàn quan họ, về Lũng Giang học hát, các cụ hỏi có học Chải hê không, nhưng lúc còn trẻ, ham vui nên chẳng ai chịu học. Sau này, khi bắt tay vào nghiên cứu âm nhạc dân tộc, ông Toàn đã tìm thấy trong kho tư liệu của Viện có lưu băng thu âm chèo Chải hê của Hữu Thu và rất tiếc vì ngày xưa không chịu học. Và ông Toàn đã tiếp tục sưu tầm thêm tư liệu ở một số nơi khác, cuối cùng cũng có trong tay bộ tư liệu một cuộc hát xưa, trong đó có cả tập sách của một nghệ nhân Chải hê. Về sau, loại hình này nằm trong chương trình cấp quốc gia về sưu tầm bảo tồn văn hóa phi vật thể của dân tộc do Viện âm nhạc thực hiện. ông Toàn tìm về Lũng Giang, gặp được vài nghệ nhân nhưng các cụ đã cao tuổi và hầu như không nhớ gì. Cuộc gặp gỡ giữa ông Địch và ông Toàn như một định mệnh, mở ra cơ hội để chèo Chải hê có thể phục hồi.

ở tuổi 60, chưa một lần diễn chính thức nhưng gia đình nghệ nhân Địch có nhiều đời hát quan họ và chèo Chải hê. Ngày nhỏ ông thường có mặt trong các buổi hát để phục vụ trà nước, những buổi diễn đó còn in đậm trong ông cho đến giờ. Nghĩ đến việc chẳng còn ai nhớ đến chèo Chải hê, ông tiếc lắm. Ban đầu, ông chẳng thiết tha gì với việc khôi phục vì ông biết công việc này chẳng dễ dàng, nhưng khi TS. Toàn thuyết phục rằng chèo Chải hê là loại hình văn hoá quý, cần được bảo tồn, họ đã tìm về làng Tam Sơn để tìm hiểu thêm, nhưng chỉ còn vài người già trong làng từng nghe chèo Chải hê, tuyệt nhiên chẳng ai biết hát. Lúc đó, chính ông cũng không còn nhớ nhiều, phải dựa vào tư liệu TS. Toàn cung cấp, ông mới dần nhớ lại khoảng 70% làn điệu và các động tác diễn xướng.

Nhưng việc phục hồi chẳng vì thế mà thuận đường, Lũng Giang có truyền thống buôn bán, trong thời buổi kinh tế thị trường, thanh niên chỉ mải mê làm giàu nên thật khó tập hợp tới hơn 20 người để phục dựng. Cuối cùng, trong số những người muốn làm sống lại chèo Chải hê có thêm nghệ sĩ Trọng Tĩnh. Tháng 5/2006, cùng với sự phối hợp của Viện âm nhạc, Trường Trung học Văn hoá nghệ thuật Bắc Ninh, ông Địch đã dành ra 6 buổi sáng lên dạy cho một nhóm học sinh của trường. ông cho biết, các cháu nhiệt tình luyện tập nhưng do đã tiếp cận nhiều loại hình nghệ thuật nên khó thuần được chèo Chải hê. Do đó, muốn phục dựng được toàn bộ nội dung biểu diễn chèo Chải hê xưa, sẽ mất nhiều thời gian. Hiện ông Địch còn kết hợp với Ban Văn nghệ (Đài Truyền hình Việt Nam) dựng lại các tiết mục, nhưng ông vẫn không hài lòng vì phần phụ múa không được như xưa.

Chỉ với nỗ lực của những người yêu thích và mong cho chèo Chải hê được phục hồi thì chưa đủ. Nếu được Bộ Văn hoá - Thông tin và các ngành chức năng của tỉnh Bắc Ninh hỗ trợ, nhất định, những làn điệu chèo Chải hê sớm có cơ hội vang lên...

(Theo TT)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác