Để bảo vệ nghệ thuật truyền thống

Mỗi vở ca kịch là một viên ngọc quí, một cuốn sử bằng vàng và rất nhiều giá trị về nhân văn, xã hội… khác, chứng tích của những thời kỳ lịch sử làm nên đất nước và con người Việt Nam. Cùng với những giá trị khác, nó là gương mặt, là hộ chiếu, là tấm bản đồ, là hình ảnh của Việt Nam trước thế giới. Vấn đề là bảo tồn và phát huy nó thế nào?

Để bảo vệ nghệ thuật truyền thống - ảnh 1

Nghệ thuật truyền thống rất mênh mông, ở đây chỉ nói kịch truyền thống, từ kịch mà liên hệ tới những loại hình khác như văn học, âm nhạc, mỹ thuật, múa… cho tiện. Nghệ thuật truyền thống là một phần không thể thiếu của nghệ thuật truyền thống, nói rộng ra là văn hoá truyền thống. Người ta thường ví văn hoá là khuôn mặt của một dân tộc. Một đất nước rất giàu mà mất đi bản sắc văn hoá riêng của mình thì đó cũng chỉ còn là một tập hợp người không có gương mặt, nghĩa là chẳng còn biết họ là ai. Bởi thế nhiều nước, dù giàu dù nghèo, càng giàu người ta càng cần phải giữ lấy bản sắc văn hoá của mình, trong đó có kịch (chủ yếu là ca kịch).

Trung Quốc có kinh kịch và rất nhiều kịch địa phương. Nhật Bản có kịch Nô được gìn giữ, giới thiệu như quốc bảo, từ quốc khách đến người du lịch đều đòi xem hoặc phải xem, không xem thì như thiếu một cái gì. Điều này đã khiến Na dim Hích mét, nhà thơ nổi tiếng thế giới người Thổ Nhĩ Kỳ hoang mang. Ông xem kinh kịch, thấy rất buồn chán nhưng tự nhủ chẳng lẽ cả tỷ con người đều thích kinh kịch mà nó lại "không có gì". Thế là ông kiên nhẫn đi xem đến 10 lần. Đến lần thứ 11 thì ít ra, ông cũng không buồn vì phải đi ngủ muộn nữa. Không chỉ kịch cổ, ở Nga có một nhà hát nổi tiếng thế giới, đó là Nhà hát Lớn. Kịch mục của nhà hát (cũng nổi tiếng thế giới) có vở ba lê "Hồ Thiên nga". Được sự tài trợ của nhà nước Xô viết (cũ), một trăm năm nay, diễn viên lớp trước già yếu thì lớp sau kế tiếp, nhà hát chỉ tập trung duy trì vở ba lê cổ điển này ở vị trí hàng đầu trong kịch mục của mình. Nhưng cũng chính vì thế, đã nói đến nước Nga thì phải nói về vở Hồ Thiên nga, âm nhạc Tchaikovsky viết cho vở thành một phần văn hoá Nga và… vào xem không dễ, đặt vé hàng năm trước chưa chắc đã đến lượt.

Kể những thí dụ đó để về với sân khấu ca kịch của ta lâu nay như chèo, tuồng, cải lương kể cả một số vở đã trở thành kinh điển. Mặc dù các cấp quản lý, giới nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu về nghệ thuật đã có rất nhiều cố gắng. Về làm nghề, đã có những tìm tòi cả về lý luận và vở diễn để đổi mới sân khấu ca kịch và cũng đã có những thành công nhất định như vở chèo bộ ba "Bài ca giữ nước" của Tào Mạt; một số tích tuồng hiện đại, vở cải lương đồ sộ vừa được trình diễn ở TP HCM vừa qua.

Về mánh giữ nghề, đã nghĩ đến việc làm trích đoạn chèo, tuồng đồ; đưa chèo, tuồng, cải lương thành các sản phẩm du lịch. Về thiết chế và tổ chức, nhà nước đã bỏ ra hàng trăm tỷ để xây dựng những nhà hát khang trang, đào tạo diễn viên cho các loại hình trên; anh em các đoàn đã bỏ công lặn lội ký hợp đồng diễn, giới thiệu quảng bá… để nuôi kịch truyền thống và nuôi nhau nhưng sau vài chục năm bươn chải, đổ ra biết bao trí tuệ và tâm huyết, nhìn chung các loại hình ca kịch truyền thống vẫn chưa "thoát hiểm", nếu không nói rằng ngày càng rơi vào bế tắc.

Thực ra người trong nghề không có lỗi, lý do dẫn đến tình trạng hiện nay chủ yếu do khách quan mang lại. Chèo, tuồng, cải lương và một số loại hình ca kịch khác có cơ sở xã hội của nó. Đó là xã hội nông nghiệp, cộng đồng làng xã trong chế độ phong kiến xưa. Chính từ cơ sở xã hội đó, nhân vật, cốt truyện, bài bản, cách giải quyết mâu thuẫn của nó mang đậm dấu ấn của một thời đã qua.

Công chúng xưa sống chậm, nhịp sống nông nghiệp khoan thai, người ta không quan tâm đến tích mà chủ yếu thưởng thức cách diễn. Công chúng ngày nay gắn liền với nếp sống công nghiệp hiện đại, nhịp sống gắt, thị hiếu hướng về sự nhanh gọn, mạch lạc, duy lý. Lối sống phương Tây, nghệ thuật phương Tây đang tác động sâu sắc đến công chúng nói chung, nhất là giới trẻ. Các loại hình ca kịch truyền thống cũng không còn thích hợp để phản ánh cuộc sống hiện tại nữa.

Thật khó chấp nhận có nhân vật "tóc xanh, mũi lõ" đứng ca dềnh dàng những điệu sa lệch bằng, cổ bản hay khổng minh toạ lầu trên sân khấu. Cũng khó chấp nhận một diễn viên hát sử rầu bên cỗ máy đang chạy rầm rầm. Nghĩa là cuộc sống đã khác, lối sống đã khác, thị hiếu cũng đã khác, không thể kéo dài và phát triển những loại hình nghệ thuật của một thời không còn tồn tại.

Nhưng giá trị văn hoá và nghệ thuật của ca kịch truyền thống thì còn mãi và cần tạo điều kiện để nó tồn tại mãi mãi. Mỗi vở ca kịch là một viên ngọc quí, một cuốn sử bằng vàng và rất nhiều giá trị về nhân văn, xã hội… khác, chứng tích của những thời kỳ lịch sử làm nên đất nước và con người Việt Nam. Cùng với những giá trị khác, nó là gương mặt, là hộ chiếu, là tấm bản đồ, là hình ảnh của Việt Nam trước thế giới. Vấn đề là bảo tồn và phát huy nó thế nào? Nên chăng, cần chấm dứt tranh luận, thể nghiệm những tìm tòi nhằm đổi mới và phát triển các loại hình nghệ thuật này trong cuộc sống hiện đại một cách vô ích. Cần đưa các loại hình này vào nơi lưu trữ những giá trị văn hoá phi vật thể của dân tộc như vào các bảo tàng sống, dưới hình thức các đoàn nghệ thuật hoặc nhà hát. Ở những nơi này, nhà nước phải bao cấp để bảo đảm đời sống cho các nghệ sĩ và hoạt động nghệ thuật của đoàn. Nhiệm vụ của các thế hệ nghệ sĩ là trau dồi nghề nghiệp để lưu giữ đời này qua đời khác tinh hoa của những loại hình ca kịch cổ, việc biểu diễn kiếm sống chỉ là phụ. Chỉ có cách này chúng ta mới bảo tồn được nguyên trạng những tinh hoa rất quí của ca kịch truyền thống đang mai một từng ngày và khai thác được nó trong cuộc sống.

 

Theo CAND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác